Đặc sản

Pâr Rục
Pâr rục (Pâr rúc) hay còn gọi là thịt nướng ống nứa. Ngày xưa Pâr rục chỉ để đãi các già làng, trưởng bản hoặc những người có chức sắc...

Thịt nướng ống của người đồng bào có hai loại. Loại bình thường gọi là thịt nướng ống, thường được dùng trong bữa ăn hằng ngày. Loại công phu đặc biệt, được gọi là Pâr rục.

 Người Cơ Tu sẽ chế biến món Pâr rục trong những dịp lễ hội đặc biệt như lễ A za, lễ A riêu car, lễ kết nghĩa các làng anh em, rồi dịp thăm thông gia, con gái đã lấy chồng…

Để chế biến món Pâr rục ngon đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mẩn vô cùng. Đầu tiên phải vào rừng kiếm cho được que trộn. Que trộn phải dùng cây quang rừng loại có gai, thân nhỏ nhưng rất cứng. Khi trộn sẽ làm thịt nát ra, hòa quyện cùng các gia vị tạo nên mùi vị riêng của món ăn. Người đồng bào khi làm món Pâr rục không bao giờ dùng đũa để trộn. Trên đường vào rừng, sẽ tiện đường hái thêm một số lá rừng đặc trưng của vùng cao để cho vào món ăn. Lá klăng rất khó nhận biết, chỉ những người có kinh nghiệm mới hái được. Nếu thịt nướng ống thường dùng thịt heo, cá suối thì Pâr rục lại hay dùng thịt của loài thú nhỏ - chuột núi.

Người vùng cao không ăn chuột đồng như miền xuôi. Với họ, chuột núi có thịt chắc, thơm và sạch hơn. Khi sơ chế cũng đòi hỏi kỹ năng để thịt tuyệt đối không có mùi. Thịt sau khi làm sạch thì chặt miếng nhỏ bằng hai ngón tay. Cho thịt vào ống nứa, sau đó cho muối, bột ngọt, và một số nguyên liệu từ rừng như ớt rừng, tiêu rừng, lá rừng. Đôi lúc còn thêm vào vài loại củ đào từ rẫy về như kiệu rẫy, sắn rẫy, môn thục… Ống nứa dùng nướng thịt phải chọn ống thẳng, không quá to cũng không quá nhỏ.

Pâr rục đặc biệt ở cách trộn. Khi trộn phải để nghiêng ống nứa khoảng 25 độ. Dùng que trộn có gai thụt lên xuống cẩn thận để không làm nguyên liệu rơi vãi ra ngoài. Trộn đến khi thịt nát ra, hòa quyện cùng với gia vị là đạt chuẩn. Món ăn ngon hay dở còn tùy thuộc vào sự cảm nhận của người trộn, sức lực của đôi bàn tay. Vậy nên chỉ có đàn ông trong nhà mới đủ sức chế biến Pâr rục.

Sau khi trộn đều thì dùng lá chuối (thường là lá chuối khô) bịt kín miệng ống, rồi để tầm 30 phút cho thịt ngấm gia vị mới đem nướng. Nướng Pâr rục cũng công phu không kém. Phải nướng phía miệng ống trước, nếu không khi nướng xuôi, thịt trong ống chín dễ rơi ra ngoài. Nướng Pâr rục cũng phải cần độ kiên nhẫn và tỉ mẩn. Nướng phải từ từ chậm rãi, không được để cháy ống. Trong quá trình nướng phải xoay đều ống để thịt được chín đều.

Pâr rục chín, mùi thơm ngát tỏa ra mọi ngóc ngách nhà sàn, lan cả ra núi đồi chập chùng phía trước. Miếng thịt ngọt lịm, thơm lừng. Mùi ống nứa thơm thơm quyện trong từng thớ thịt. Mùi tiêu rừng, lá rừng cay thơm, mùi kiệu rẫy nồng nàn. Dường như hương vị của đất trời, của núi rừng vùng cao đều quyện trong từng miếng thịt. 

Nếu phụ nữ Cơ Tu phải biết dệt zèng, may vá, thì đàn ông Cơ Tu (và cả đàn ông của các đồng bào dân tộc thiểu số khác ở A Lưới nói chung) phải biết làm món Pâr rục thật ngon. Đó như một chuẩn mực ngầm để các chàng trai Cơ Tu được các cô gái lựa chọn làm chồng.

Khám phá Huế tổng hợp
 Bản in]
Các bài khác
 

Danh mục đặc sản

Bài đọc nhiều nhất

  • Muối tiêu rừng là một loại gia vị đặc trưng, thường được chấm kèm với món Bò một nắng A Lưới mà chỉ nghe qua đã khó kiềm lòng.
  • Cho đến nay, rượu đoác được xem là loại rượu duy nhất trên thế giới được lấy trực tiếp trên cây mang về uống, không cần qua chế biến. Đây là thức uống truyền thống có từ ngàn xưa của dân tộc Tà Ôi sống trên dãy Trường Sơn. Với đồng bào các dân tộc ở huyện vùng cao A Lưới (Thừa Thiên - Huế), rượu lấy trực tiếp từ cây đoác là loại rượu ngon nhất trên đời.
  • Người Tà Ôi (huyện A Lưới) chỉ làm món lạp cá mỗi khi đến dịp lễ tết, hay nhà có khách quý.
  • Bánh A Quát là loại bánh được dùng trong ngày hội - lễ cưới. Với người Tà Ôi, nếp Cu-char (nếp than) là loại nếp quý nhất và cũng là nguyên liệu duy nhất làm nên món bánh đặc trưng này.
  • Nghề đan lát truyền thống gắn bó với đồng bào dân tộc Pa Cô. Với đôi tay tỷ mẩn khéo léo, họ đã tạo nên những sản phẩm giản đơn, nhưng đầy tiện ích cho cuộc sống thường nhật. Sản phẩm không chỉ đơn thuần phục vụ sản xuất, sinh hoạt mà còn giữ được “hồn” của văn hóa người Pa Cô.