Khôi phục bài bản Nhã nhạc ”Phú lục địch”
Sau gần một năm điền dã, phỏng vấn, thu thập tư liệu… nhóm nghiên cứu Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình (thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế) hoàn thành hồ sơ khoa học về bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch”, một bài bản quan trọng trong kho tàng di sản âm nhạc cung đình Huế, từng được tôn vinh là kiệt tác tiêu biểu cho tài năng sáng tạo.

Các nghệ nhân, nghệ sĩ thuộc ban nhạc Phú Xuân (TP Huế) trình diễn bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch”

“Phú lục địch” là bài bản Nhã nhạc phục vụ trong đời sống và sinh hoạt của chốn hoàng cung, bài bản này thường được tấu lên trong các buổi yến tiệc của triều đình và tiếp đón sứ thần… Theo các nhà nghiên cứu, đối với “Phú lục địch”, nhạc cụ địch giữ vai trò chính được kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng cùng với một số nhạc cụ khác, như: tam, tỳ, nhị, nguyệt, trống, sanh tiền… tất cả những yếu tố này cùng một lúc được trình tấu bằng kỹ năng điêu luyện của người nghệ sĩ đã làm nên sức sống cho bài bản.

Do thị hiếu cũng như ảnh hưởng của hội nhập văn hoá trong quá trình giao lưu với các nước trong khu vực và trên toàn cầu nên nhiều bản bản Nhã nhạc đã bị biến tướng… Khi không còn nằm trong môi trường diễn xướng của chốn cung đình, bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch” hòa nhập vào môi trường diễn xướng dân gian và thay đổi ít nhiều về nội dung, tính chất. Hiện nay, dù vẫn được trình diễn nhưng tính chân xác của Phú lục địch vẫn là một dấu hỏi rất cần sự quan tâm của giới chuyên môn. Trước đây, cố nghệ nhân Trần Kích đã sưu tầm, dàn dựng bài bản Nhã nhạc này cho Ban nhạc Phú Xuân (TP Huế) biểu diễn, quảng bá trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, để phân tích, nghiên cứu và lập hồ sơ khoa học nhằm phát huy vai trò, chức năng của bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch”, thì đây là hồ sơ khoa học đầu tiên được xây dựng nhằm mục đích so sánh, đối chiếu để hoàn chỉnh bài bản này gần với nguyên bản.

Nghệ nhân Trần Thảo (con trai của cố nghệ nhân Trần Kích) cho biết, cũng như ở các quốc gia châu Á khác, dưới thời quân chủ ở Việt Nam, các bài bản Nhã nhạc nói chung, “Phú lục địch” nói riêng được xem là âm nhạc chính thống của một quốc gia, của chính quyền nhà nước và đã trở thành điển chế văn hoá của triều đại. Tuy nhiên, cùng với sự thoái trào của chế độ quân chủ, nhiều bài bản nằm trong hệ thống Nhã nhạc cung đình Huế đang dần có nguy cơ mai một và biến mất, bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch” cũng nằm trong hoàn cảnh đó.

Theo nghệ nhân Nguyễn Quý Cát, không những bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch” có nguy cơ thất truyền, mà nhạc cụ địch cũng đang bị thất truyền trong dân gian. Đã từ  lâu, nhạc cụ này hầu như không được các nhạc công dân gian sử dụng nữa, bởi âm vực của địch thấp, trầm, khi thổi địch người ta thổi ở bậc thấp: sol, hoặc la – thấp hơn hò 1 (các nhạc cụ thuộc dàn tiểu nhạc thường lấy theo bậc si giáng – gọi là hò 1). Điều này khá bất tiện cho các nhạc công dân gian khi tham gia hòa tấu những bài bản khác, do đó địch được các nhạc công thay thế bằng Sáo trúc. Về hiệu quả âm thanh, sáo trúc tuy có âm thanh trong trẻo, mượt mà, bay bổng nhưng không phong phú về “màu âm” để lột tả đầy đủ tính chất của bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch”: Vừa trầm hùng, trang nghiêm; lại vừa vui tươi, trong sáng… Dù đường nét giai điệu của bài bản Nhã nhạc “Phú lục địch” khá ngắn gọn, dễ nhớ nhờ có khúc thức rõ ràng.

Âm nhạc cung đình Huế, bao gồm các thể loại, như: Nhạc múa cung đình, nhạc tuồng cung đình và Nhã nhạc, trong đó Nhã nhạc là một giá trị di sản văn hóa đã từng tồn tại dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, rồi phát tích rực rỡ dưới triều Nguyễn. Việc bảo tồn và phát huy các bài bản âm nhạc cung đình Huế khi nó đã được sưu tầm, nghiên cứu, chuẩn hóa chính là gìn giữ những giá trị di sản văn hóa phi vật thể để chúng không bị “tam sao thất bản”. “Phú lục địch” cũng là một trong những mảnh vỡ Nhã nhạc vừa được ghép nối để nhằm trả lại những giá trị nguyên xưa mà bài bản này vốn có.

http://baothuathienhue.vn
 Bản in]
 

Bài đọc nhiều nhất

  • Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, Việt Nam, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993.
  • Kinh Thành Huế là tòa thành ở Cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.
  • Phải chăng “núi không cần cao, có tiên ắt thiêng. Sông không cần sâu, rồng chầu thành nổi tiếng”…
  • Hơn 10 năm để định hình nên thương hiệu có một không hai ở xứ Huế, Trà Đình Vũ Di đã trở thành tên gọi, là chốn đi – về đối với bất cứ ai muốn khám phá và thưởng thức Trà Cung đình Huế cũng như các loại đặc sản Huế khác.
  • Vượt chừng 30km từ trung tâm thành phố Huế, xuôi về theo hướng Đông Nam, du khách đến với dải đất trải dài theo hướng Bắc – Nam nằm giữa biển Đông và đầm phá Tam Giang rộng lớn. Tiếp tục xuôi về hướng Nam cách thị trấn Thuận An 14 km là đến xã Phú Diên, huyện Phú Vang. Đi thẳng trục đường này, các bạn sẽ gặp một tấm biển cắm mốc Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Phú Diên, rẽ phải 200m nữa là tới.
  • Là mảnh đấy miền Trung nắng gió nhưng xứ Huế được thiên nhiên bạn tặng cho lượng mưa dồi dào, đất đai trù phú quanh năm được bồi đắp từ dòng sông Hương thơ mộng. Bởi vậy, du lịch Huế vào mùa nào, du khách cũng đều ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vô khối các loài hoa, thân thuộc đến nỗi đã trở thành tên gọi gắn liền với từng địa danh tại Cố đô. Dưới đây là một số gợi ý cho mọi người khi tới Huế.
Về đầu trang