Lăng vua Khải Định (Ứng Lăng)
Lăng Khải Định, còn gọi là Ứng Lăng (應陵) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế, nay thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy.
Lăng vua Khải Định. Ảnh: Trần Thanh Sang
Lăng vua Khải Định. Ảnh: Trần Thanh Sang

Lăng của Vua Khải Định được xây dựng tốn nhiều công sức và tiền của nhất, và thời gian để xây dựng cũng lâu nhất, kéo dài 11 năm trong một khu quần thể chưa đến 1 hecta (chiếm diện tích khiêm tốn so với các đời vua trước)

Bước lên ngai vàng giữa tuổi 31, Khải Ðịnh say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, Cung An Ðịnh, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Ðức và đặc biệt là Ứng Lăng.

Lăng vua Khải Định nhìn từ trên cao (Ảnh: Thanh Toàn)

Lịch sử

- Ngày 4 tháng 9 năm 1920, Lăng Khải Định được khởi công xây dựng do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá chỉ huy. Tham gia xây dựng lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng...

- Năm 1925, vua Khải Định băng hà. Công việc xây dựng được vua Bảo Đại tiếp tục đến năm 1931 thì hoàn thành.

Kiến trúc


(Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)

Ứng Lăng được xây dựng trên triền núi Châu Chữ, có núi Chóp Vung và Kim Sơn lần lượt nằm bên tả và hữu, có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải gọi là “thủy tụ” và “minh đường”. Lăng có hình khối chữ nhật với 127 bậc tam cấp và Cung Thiên Định là trọng tâm. 

Lăng Khải Định nhìn ra xung quanh là một vùng đồi núi trữ tình (Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)

So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích khiêm tốn hơn nhiều, với kích thước 117 m × 48,5 m nhưng ngược lại cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise..., cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình trên ngọn đồi này.

Dàn voi, ngựa và tượng đá trước sân chầu của Ứng Lăng (Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)

Kiến trúc của Lăng Khải Định không tuân theo tôn chỉ một trường phái kiến trúc nhất định nào, mà là một sự kết hợp táo bạo nhiều trường phái kiến trúc từ Ấn Độ giáo, Phật giáo, Gothique đến Roman… đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể, những cổng trụ hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Ðộ; trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật; hàng rào như những cây Thánh giá khẳng khiu; nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể. Sự kết hợp đó thể hiện rõ nét về những ảnh hưởng mang tính chất thời cuộc đến tư tưởng của Vua Khải Định, khi nền văn hóa Đông - Tây có sự giao thoa trong thời điểm giao thời của lịch sử. Có lẽ chính vì vậy mà lăng Khải Định có cái lạ, có phần ngông nghênh, phô trương và độc đáo so với các công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam.

Cung Thiên Định (Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)

Công trình kiến trúc chính của lăng Khải Định chính là cung Thiên Định. Cung Thiên Ðịnh ở vị trí cao nhất gồm 5 phần liền nhau: hai bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng; phía trước là Ðiện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung Khải Ðịnh; chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua bằng đồng đúc tại Pháp năm 1920, do 2 người Pháp là P. Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định với tỷ lệ 1/1. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30 m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua và trong cùng là khám thờ bài vị của vua khi quá cố.

Điện Khải Thành (Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)


Chân dung vua Khải Định, Bửu tán và bước tranh "Cửu long ẩn vân" trên trần nhà 
là những điểm đặc sắc nhất, tinh xảo nhất tại lăng Khải Định (Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh)

Toàn bộ nội thất của ba gian giữa trong cung Thiên Ðịnh đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Ðó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... Những vật liệu cứng, biệt lập, qua bàn tay vàng khéo léo của các nghệ nhân đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật mềm mại, sống động và vô cùng rực rỡ. Ðặc biệt chiếc bửu tán bên trên pho tượng đồng trong chính tẩm với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác nó được làm bằng nhung lụa, có thể xao động trước gió mà quên đi rằng nó đích thực là một khối bê tông cốt thép nặng gần một tấn.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Ðịnh là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của ba bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam. Ba tấm phù điêu này được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. 

Giá trị nghệ thuật

Với 11 năm xây dựng cùng sự đầu tư nguyên vật liệu hết sức kỹ lưỡng, Ứng Lăng được xem là một trong những công trình lăng tẩm tốn kém nhất thời đó. Tuy nhiên sự tốn kém và công phu này đã hình thành một công trình kiến trúc khá đặc sắc, mà bất cứ ai đến thăm cũng không khỏi trầm trồ.

Theo đánh giá của những nhà chuyên môn thì lăng Khải Định thực sự là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh. Đây cũng là lăng tẩm duy nhất có sự pha trộn giữa Đông và Tây, phản ánh rõ nét dấu ấn thời cuộc cũng như cá tính của vị vua này.

Cho đến nay lăng Khải Định vẫn còn gây ra nhiều ý kiến trái chiều khi đánh giá về quan điểm thẩm mỹ của vị vua này, dẫu vậy Ứng lăng vẫn có vị thế nhất định bởi sự khác lạ so với hệ thống các lăng tẩm của vương triều nhà Nguyễn ở Huế và hệ thống lăng tẩm ở Việt Nam qua các triều đại phong kiến nói chung.

Khám phá Huế tổng hợp
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, Việt Nam, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993.
  • Phải chăng “núi không cần cao, có tiên ắt thiêng. Sông không cần sâu, rồng chầu thành nổi tiếng”…
  • Hơn 10 năm để định hình nên thương hiệu có một không hai ở xứ Huế, Trà Đình Vũ Di đã trở thành tên gọi, là chốn đi – về đối với bất cứ ai muốn khám phá và thưởng thức Trà Cung đình Huế cũng như các loại đặc sản Huế khác.
  • Bên cạnh những kiến trúc thành quách, cung đình, lăng tẩm… của vương triều phong kiến xưa; Huế còn có một di sản kiến trúc khác – đó là nhà vườn - một dấu ấn đậm nét vừa mang nét tinh hoa quý tộc, lại vừa có màu sắc dân gian truyền thống.
  • Là mảnh đấy miền Trung nắng gió nhưng xứ Huế được thiên nhiên bạn tặng cho lượng mưa dồi dào, đất đai trù phú quanh năm được bồi đắp từ dòng sông Hương thơ mộng. Bởi vậy, du lịch Huế vào mùa nào, du khách cũng đều ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vô khối các loài hoa, thân thuộc đến nỗi đã trở thành tên gọi gắn liền với từng địa danh tại Cố đô. Dưới đây là một số gợi ý cho mọi người khi tới Huế.
  • Vượt chừng 30km từ trung tâm thành phố Huế, xuôi về theo hướng Đông Nam, du khách đến với dải đất trải dài theo hướng Bắc – Nam nằm giữa biển Đông và đầm phá Tam Giang rộng lớn. Tiếp tục xuôi về hướng Nam cách thị trấn Thuận An 14 km là đến xã Phú Diên, huyện Phú Vang. Đi thẳng trục đường này, các bạn sẽ gặp một tấm biển cắm mốc Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Phú Diên, rẽ phải 200m nữa là tới.
Về đầu trang