Thời Thực dân Pháp xâm lược (1858-1930) (tiếp)
Sau sự kiện Kinh đô thất thủ ngày 23/5 năm Ất Dậu (5/7/1885), Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi tới Sơn phòng Tân Sở Quảng Trị. Tại đây ngày 2/6 năm Ất Dậu (13/7/1885) vua Hàm Nghi đã hạ dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân kháng Pháp. Và sau đó ngày 11/8 năm Hàm Nghi thứ nhất (19/9/1885), tại núi Ấu Sơn, huyện Hương Sơn thuộc Sơn Phòng Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi hạ dụ Cần Vương lần thứ hai.
Thời Thực dân Pháp xâm lược (1858-1930) (tiếp)
Các tin đã đưa
  • Sau sự kiện Kinh đô thất thủ ngày 23/5 năm Ất Dậu (5/7/1885), Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi tới Sơn phòng Tân Sở Quảng Trị. Tại đây ngày 2/6 năm Ất Dậu (13/7/1885) vua Hàm Nghi đã hạ dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân kháng Pháp. Và sau đó ngày 11/8 năm Hàm Nghi thứ nhất (19/9/1885), tại núi Ấu Sơn, huyện Hương Sơn thuộc Sơn Phòng Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi hạ dụ Cần Vương lần thứ hai.

  • Tàu chiến Pháp tấn công vào cửa Thuận An năm 1883
    Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.

  • lịch sử Huế, lịch sử Thừa Thiên Huế, Huế - Thuận hóa - Phú Xuân, nhà Nguyễn
    Khi Gia Long lên ngôi, mở ra triều đại nhà Nguyễn, Huế trở thành trung tâm chính trị của một đất nước có lãnh thổ thống nhất và rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Ở kinh đô Huế vua Gia Long và vua Minh Mạng đã xây dựng một bộ máy nhà nước có quy củ, được tổ chức chặt chẽ, đủ sức quản lý cả một đất nước rộng lớn từ Lạng Sơn đến tận mũi Cà Mau.

  • Trong lịch sử Việt Nam, triều đại Tây Sơn tồn tại trong một thời gian tương đối ngắn, nếu tính từ khi nhà Tây Sơn khởi nghĩa chống chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong năm 1771, đến thời điểm kết thúc vào năm 1801, nhà Tây Sơn chỉ hiện hữu trong 30 năm. Nhưng chính sử ghi nhận triều đại này chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1788, khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, đến năm 1801, lúc triều đình Cảnh Thịnh rút khỏi đây để chạy ra đất Bắc, nghĩa là trong vòng 14 năm. Tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng triều đại này đã để lại một sự nghiệp sáng ngời trong lịch sử dân tộc.

  • Do những mâu thuẫn nội bộ không thể giải quyết được trong triều đình Lê Trung Hưng, mà đặc biệt là sự kình địch của hai thế lực phong kiến đang dần dần lớn mạnh là họ Trịnh, đứng đầu là Trịnh Kiểm và họ Nguyễn (dòng dõi Nguyễn Kim) đứng đầu là Nguyễn Hoàng (Nguyễn Hoàng để tránh bị ám hại đã xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa).

  • Bắt đầu từ thập niên 20 của thế kỷ XVI, vùng đất Thuận Hóa lại xảy ra nhiều bất ổn, bắt đầu từ việc các quan lại địa phương lộng quyền, chia bè phái, vơ vét của cải, nhũng nhiễu nhân dân, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng khó khăn. Đặc biệt, năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Thuận Hóa bắt đầu một thời kỳ đầy biến động.

  • Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã cử các trọng thần vào trấn thủ Thuận Hóa, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, tăng cường di dân, khai hoang phục hóa, thành lập các làng xã mới. Tình hình Thuận Hóa cơ bản ổn định, nhưng vẫn bị sự quấy nhiễu của quân Chiêm Thành. Từ sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà (1434), quân Chiêm Thành nhiều lần tấn công châu Hóa, năm 1446 vua Lê Nhân Tông cử đại quân chủ động đánh Chiêm Thành nhằm giữ yên bờ cõi.

  • Năm 1306, vua Chế Mân đã dùng hai châu Ô, Lý làm lễ vật dẫn cưới công chúa Huyền Trân (nhà Trần), một dải đất xung yếu từ bờ Nam sông Thạch Hãn đến bờ Bắc sông Thu Bồn đã gia nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Năm 1307, nhà Trần đã đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa.


1 2  

Bài đọc nhiều nhất

  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Vùng Huế với tên xưa Thuận Hoá đã tham gia vào lịch sử Việt Nam từ lâu và thế kỉ XVIII là thủ phủ của chúa Nguyễn, là kinh đô của nhà Tây Sơn, nhất là sang thế kỷ XIX thành kinh đô nhà Nguyễn thì Huế dần xác lập lại vị trí là trung tâm văn hoá của nước ta.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.
Về đầu trang