Tập tục cúng âm hồn - Nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh xứ Huế
Tục cúng cho các âm hồn tại Huế vào ngày thất thủ Kinh đô được xem là ngày cúng cô hồn lớn nhất trong cả nước. Việc làm này đã thể hiện được tình đồng bào, tấm lòng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc của người dân xứ Huế.

Nếu là một du khách lần đầu tiên đặt chân đến TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) đúng vào dịp 23/5 âm lịch, nhiều người sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi không khí trang nghiêm trải khắp thành phố. Từ các gia đình đến thôn, xóm, phường,.. rất nhiều rạp được dựng nên để tổ chức lễ cúng âm hồn. Đó chính là ngày tưởng nhớ sự kiện “Thất thủ Kinh đô 23 tháng 5”, một ngày rất đặc biệt đối với mỗi người dân xứ Huế.

Đi tìm nguồn gốc ngày cúng âm hồn ở Huế

Hằng năm cứ đến dịp 23/5 âm lịch, người dân ở Huế lại long trọng tổ chức ngày lễ cúng âm hồn. Đây là một nghi lễ vừa mang tính chất gia đình lại vừa có tính chất cộng đồng trong một đoàn thể, tổ chức hay trong một tập thể dân cư ở cùng tổ, phường,.. Việc lễ cúng âm hồn ở Huế được tổ chức một cách trang trọng như vậy liên quan đến sự kiện thất thủ kinh đô năm 1885.
 


Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình mà lễ vật cũng khác nhau nhưng không thể thiếu: hương đèn, trầu cau, xôi, chè, khoai sắn, hoa quả...

Giai đoạn 1883 – 1885 là giai đoạn nhạy cảm nhất trong lịch sử Việt vào triều Nguyễn. Năm 1883, sau khi Pháp nã đại bác vào Thuận An, Kinh thành Huế rơi vào thế lâm nguy, triều đình hoang mang lo sợ. Lúc này chỉ có Tôn Thất Thuyết vẫn cương quyết giữ vững lập trường đánh Pháp.

Đêm 4 rạng sáng 5/7/1885 (tức đêm 22 rạng sáng 23/5 năm Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết đứng dậy chỉ huy cuộc vũ trang với 20.000 binh lính chống Pháp, đánh vào sào huyệt của giặc ở Mang Cá và Tòa Khâm Sứ bên bờ sông Hương. Quân ta chiến đấu gan dạ nhưng vì khí giới thô sơ nên bị thua trận. Quân địch tổ chức phản công, chiếm thành, giết chóc không chừa một ai. Một cuộc chạy loạn hết sức đau thương và bi thảm của người dân xứ Huế đã diễn ra. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất chính là người dân trong kinh thành Huế.

Theo một số ghi chép, dường như không có gia đình nào là không chịu mất mát sau biến cố. Khoảng 9300 binh lính và thường dân bị thương vong. Họ là những quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy,… tử nạn vì nhiều nguyên do. Hoặc là chết vì súng đạn giặc Pháp, hoặc do chen lấn, dày đạp nhau mà chết. Cũng có thể bị ngã khi tìm cách leo ra khỏi thành hoặc sẩy chân xuống các ao hồ dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm,..

Những người sống sót sau biến cố bàng hoàng, tiếc thương cho những người bị chết một cách oan uổng nên đã lập đàn cúng bái.
 


Trong nghi lễ luôn có một bình nước lớn và một bếp lửa được đốt ngay bên cạnh bàn thờ cúng.

Từ đó trở đi, ngày 23/5 âm lịch hàng năm cũng trở thành ngày “giỗ chung” của cả kinh thành Huế. Vào ngày này, người dân ở Huế lại làm lễ cúng cho những người tử nạn, không kể người đó có phải là người thân trong gia đình hay không.

Nét đẹp cao quý trong văn hóa Huế

Tập tục cúng âm hồn bắt đầu từ những năm sau biến cố thất thủ kinh đô và kéo dài cho đến bây giờ. Trải qua hơn 130 năm, dù Huế có nhiều sự biến đổi nhưng tập tục này vẫn được gìn giữ và chưa bao giờ bị gián đoạn. Tuy quy mô và hình thức tổ chức có chút khác nhau so với từng thời điểm lịch sử song ý nghĩa của nó vẫn được giữ nguyên.

Từ ngày 23/5 âm lịch, nếu là một du khách đặt chân đến Huế ắt hẳn mọi người sẽ không khỏi ngạc nhiên trước không khí trang nghiêm. Hình ảnh các lễ cúng, hương khói, tiếng nhạc cúng lễ có thể bắt gặp ở mọi nơi từ sân nhà, đầu ngõ, trong chợ, bến đò, bến sông,..

Việc tổ chức nghi lễ cúng âm hồn theo hình thức cá nhân hay tập thể không có một quy định cụ thể nào. Chủ yếu là dựa vào sự thành tâm và tấm lòng của mỗi người. Thông thường, việc tổ chức lễ cúng âm hồn được tổ chức vào ngày chính lễ 23/5 âm lịch, nhưng cũng có thể kéo dài cho đến hết tháng 5 tùy vào mỗi gia đình.

Mâm cúng lễ thường được bày biện giữa trời, thường là trước cổng hoặc sân nhà với hai mâm thượng và hạ. Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình, mỗi khu phố mà lễ vật cũng khác nhau. Tuy nhiên trong số các lễ vật không thể thiếu: hương đèn, trầu cau, rượu trắng, cháo trắng, muối, gạo, hạt nổ, xôi, chè, khoai sắn, hoa quả, giấy tờ vàng mã,..

Đặc biệt trong nghi lễ luôn có một bình nước lớn và một bếp lửa được đốt ngay bên cạnh bàn thờ cúng. Nhiều người tin rằng những vong linh bị chết oan uổng vì đói khát, chết lạnh lẽo dưới ao hồ,.. không ai thờ tự có thể đến uống nước, sưởi ấm vào ngày này.
 


Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất, hằng năm vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh đô.

Nghi thức tổ chức lễ cúng âm hồn trang trọng nhất vẫn được tổ chức ở các am miếu trong khắp thành phố Huế. Hiện nay nằm ở đường Mai Thúc Loan (TP. Huế) vẫn còn Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với ngày lễ này. Miếu được xây dựng vào năm 1895, hằng năm vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh đô.

Ông Trần Văn Vinh (người dân TP. Huế) cho biết: “Ngày này người dân Huế vẫn gọi là ngày “quẩy cơm chung”. Vào ngày đó nếu là khách vãng lai thì dù bất cứ nơi nào mình nghỉ chân vẫn thường được gia chủ mời cùng với gia đình dùng chung bữa giỗ đó”.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Huế, lễ cúng âm hồn là một cuộc tưởng niệm tập thể của cộng đồng dân chúng Huế. Nó ghi lại một sự kiện bi hùng xảy ra trên đất Cố đô vào ngày 23/5 Ất Dậu khi có hàng nghìn người đã chết sau biến cố đau thương này.

Không chỉ cúng cho những vong linh không biết tên tuổi để tưởng nhớ họ đã có công chống thực dân để đấu tranh vì độc lập tự chủ của nước nhà. Tập tục còn thể hiện tính văn, nhân đạo rộng lớn và nghĩa cử hết sức cao đẹp của người dân Huế nói riêng và người Việt Nam nói chung.
 
Thế Trung - Đức Hoàng
Theo Báo Điện tử Tổ Quốc
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Vùng Huế với tên xưa Thuận Hoá đã tham gia vào lịch sử Việt Nam từ lâu và thế kỉ XVIII là thủ phủ của chúa Nguyễn, là kinh đô của nhà Tây Sơn, nhất là sang thế kỷ XIX thành kinh đô nhà Nguyễn thì Huế dần xác lập lại vị trí là trung tâm văn hoá của nước ta.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
  • Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.
  • Có lẽ chẳng nơi nào trên thế giới cúng âm hồn mà quy mô tổ chức lại có tính cách toàn dân trong một thành phố như ở Huế trong ngày lễ cúng âm hồn 23 tháng 5 âm lịch. Đây là một hình thức cúng tế mà đơn vị tổ chức nghi lễ vừa có tính chất đơn lẻ trong từng gia đình, lại vừa có tính chất cộng đồng trong từng đoàn thể, tổ chức, tập thể những người cùng chung một ngành nghề, cùng ở trong một thôn, xóm, phường.
Về đầu trang