Tục lệ cúng đất ở xứ Huế
Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.

Xứ Huế có câu ca dao “Mẹ già lút cút lui cui; mua gà cúng đất, đất xui mẹ giàu”.

Đồng bào <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> bộ có tục thờ ông Tà (néak Tà) là hiện thân chủ cũ của vùng đất này. Theo người Việt gốc Khmer Nam bộ thì néak Tà là thần tạo vật… đồng thời cũng là các vị thủy tổ của dòng họ, gọi chung là Tà Arak. Bao trùm lên tất cả, néak Tà là một vị thần có quyền năng cai quản một khu vực đất đai rộng lớn, nhưng cũng có khi chỉ là một phum, một sóc nhỏ. Miếu thờ ông Tà là một cái nhà sàn nhỏ, có nơi gần vào gốc cây cổ thụ. Bên trong đặt vài ba viên đá cuội tự nhiên nhặt ở gốc cây hay bờ ruộng nào đó. Cúng xong ăn uống tại chỗ, không được mang thức ăn về nhà. Người Kinh ở đây cũng có tục cúng ông Tà vào ngày mồng 2 tháng Giêng Âm lịch. Vật cúng gồm cá lóc nướng trui, mắm nêm, rau luộc, (có thể thay thế bằng đọt rau lang) rượu đế, chuối chát. Khi cúng, gia chủ phải ăn, uống trước một miếng, để chứng tỏ đồ cúng không có độc(1).

Trên đây là chuyện cúng đất ở đất Phương <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region>, nội dung cốt lõi vẫn còn nguyên, nhưng hình thức đã đổi khác. Dưới đây xin trình bày về việc cúng đất ở đất Thuận Hóa - Huế. Đến nay, trải qua bảy trăm năm, tục lệ cúng đất vẫn còn được bảo lưu, về hình thức, một mâm cúng đất ở Huế được bố trí ở 3 bàn thượng, trung, hạ (bàn hội đồng). Ở bàn thượng chỉ có một con gà trống luộc, gồm huyết và lòng rắc muối hạt một con dao bằng tre, cùng một dĩa xôi trắng, phụ năm sáu chén chè; bàn trung gồm một con gà mái luộc đầy đủ lòng và huyết cũng rắc muối hạt đặt dao tre, một dĩa xôi trắng và một số chén chè. Tại bàn cúng này còn có 3 con cua bể, 3 quả trứng và 3 miếng thịt heo luộc đều có rắc muối sống. Ở bàn hạ, còn gọi là bàn hội đồng, bố trí một mâm cơm đầy đủ các thức ăn song phải có một dĩa ra tập tàng luộc (có thể thay bằng rau khoai) với nước mắm nêm, một gắp cá nướng, loại cá nhỏ và một khay khoai sắn luộc, một khay gạo sống muối sống, hột nổ ngũ sắc, đường đen, một nồi cháo trắng. Tất cả 3 bàn này đều có hoa quả, bát hương, cây đèn, ly nước, ly rượu, dĩa cau trầu. Ngoài ra còn có các loại vàng mã (đồ giấy), ở bàn thượng là một chiếc ngai có tàng, trên đặt mũ phương phát, một đôi hia, và một chiếc áo vẽ rồng có đai đeo. Ở bàn trung gồm trang phục của bà thổ, bà hỏa là 2 chiếc nón quai thao, 2 chiếc quần, 2 chiếc áo vẽ hình chim phụng, hai chiếc đãy cau trầu và hai chiếc quạt, năm bộ chủ Ngung Man Nương, gồm 5 chiếc nón chóp nhọn và 5 bộ áo quần, năm bộ Ngũ phương gồm 5 chiếc mũ, 5 đôi giày, 5 chiếc áo nhỏ, thập nhị Long Trạch gồm 12 chiếc áo đen. Ở bàn hạ, hội đồng, chỉ bày áo binh. Thời gian tiến hành lễ cúng đất là tháng hai và tháng tám âm lịch. Người tiến hành lễ cúng là gia chủ (hộ gia đình). Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.

Đặc biệt trong lễ cúng này, chủ nhà thành tâm kính mời linh hồn cô đơn các ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, vì ốm đau đói khát mà chết; ma Lồi ma Lạc có tước vị mà không có tên, có tên mà không có tước vị cùng đến dự. Ngoài ra, bao giờ chủ nhà cũng lấy bẹ chuối làm thành một chiếc túi đựng thức ăn, áo binh, giấy vàng bạc, treo ở cổng nhà gọi là Xà Lẹc, dành cho những “người” qua đường.

Đối chiếu với tục lệ cúng đất ở phương Nam, chúng ta thấy có những điểm tương đồng rất đáng được quan tâm, trước hết là thức cúng trong lễ cúng đất Nam Bộ (cũng kèm với lễ cúng việc lề của từng dòng họ): “Mâm thứ nhất đặt trên một cái bàn thấp gồm cá nướng trui, cháo ám; đó là mâm cúng việc lề. Mâm thứ nhì đặt trên miếng ván lót trệt trên mặt đất, liền sát với mâm thứ nhất, gồm có con gà quay, bánh tráng nhúng nước, bánh tráng nướng và rau sống là mâm cúng thổ chủ, vợ chồng chủ Ngu”(2).

Về lai lịch vợ chồng chủ đất Man Nương, căn cứ vào nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thì họ là người Chiêm Thành (Chăm) được coi như đại diện cho dân tộc trông coi đất đai(2).

Trên mâm cúng vợ chồng chủ đất (chủ Ngung) ở vùng Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận…) có cá khô nướng, dĩa rau luộc, cháo, mắm nêm, gà luộc nguyên con, bộ tam sên (ba con cua hoặc tôm, một cái trứng và một miếng thịt ba rọi đều luộc chín), xôi chè, gạo muối, đặc biệt có chiếc ghe bằng bẹ chuối, một cây cung và 5 mũi tên… Một điểm đáng lưu ý nữa là tục cúng chủ Ngu (Ngung) ở Nam Trung Bộ giới hạn quyền năng trong phạm vi đất vườn (thổ cư, thổ trạch), dù trong văn tự dùng chữ tá thổ, mãi thổ hay khao thổ cũng chỉ nói đến đất vườn, không đề cập đến ruộng. Trong khi ở Nam Bộ nội dung tín ngưỡng cúng đất lại bao gồm luôn cả ruộng và vườn.(3)

Điều đáng lưu ý ở đây là mặc dù có nhiều nét dị bản nhưng từ Thuận Hóa trở về <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:country-region> nơi đâu cũng có con gà cúng thần, đây chính là dấu ấn câu chuyện “sự tích gà gáy sáng” trong truyện cổ Chàm (NXB Văn hóa, 1982).

Tục lệ cúng đất không có yếu tố mê tín dị đoan, mà thể hiện tấm lòng “uống nước nhớ nguồn”, tri ân, biết ơn tổ tiên vì vậy cần bảo tồn nếp sinh hoạt văn hóa dân gian này của Huế.

Tác giả Huỳnh Đình Kết
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Vùng Huế với tên xưa Thuận Hoá đã tham gia vào lịch sử Việt Nam từ lâu và thế kỉ XVIII là thủ phủ của chúa Nguyễn, là kinh đô của nhà Tây Sơn, nhất là sang thế kỷ XIX thành kinh đô nhà Nguyễn thì Huế dần xác lập lại vị trí là trung tâm văn hoá của nước ta.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Người được cúng là các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.
Về đầu trang