“Làng văn vật Thừa Thiên Huế”
Từ hàng trăm năm nay, nhiều làng, xã ở Thừa Thiên Huế đã được người trong và ngoài tỉnh biết đến bởi sự “giàu có” về nghề nghiệp, thành đạt về học hành, khoa cử, phong phú, đa dạng về các sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian... Có làng đã được triều đình nhà Nguyễn vinh danh là “Văn vật danh hương”.

Từ trước năm 1945, đã có một số nhà văn hóa lớn viết các tập địa chí nói về nhiều mặt của vùng đất Cố đô. Những năm sau này, ở Thừa Thiên Huế càng có nhiều người quan tâm, nghiên cứu và viết về văn hóa làng xã, văn hóa dân gian. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này cũng chỉ mới giới thiệu được một số làng vốn đã nổi tiếng từ lâu. Mặt khác, một số bài viết chỉ giới hạn trong việc giới thiệu một số nét nổi bật của một làng quê chứ chưa khảo cứu toàn diện về các làng quê đó.

Để có thể nói nhiều hơn, đầy đủ hơn về văn hóa ở các làng, xã thuộc vùng đất núi Ngự sông Hương, được sự đồng thuận và hỗ trợ tích cực của UBND tỉnh, của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế, tháng 8/2017 , Hội Văn nghệ Dân gian Thừa Thiên Huế đã cho ra mắt tập sách “Làng văn vật Thừa Thiên Huế”. Tập sách do NGƯT Trần Đại Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Sách dày 457 trang (khổ 14 x 24cm), được trình bày rất trang trọng, đẹp mắt.

Tập sách “Làng văn vật Thừa Thiên Huế” tập hợp 45 bài viết của 13 tác giả. Hầu hết người viết sinh ra, lớn lên, sống và làm việc ở Thừa Thiên Huế. Bởi vậy, bằng lòng yêu mến nơi chôn rau, cắt rốn của mình, họ đã bỏ nhiều công sức để tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử, về văn hóa không chỉ là của làng mình mà còn của rất nhiều làng xã khác trong huyện, trong tỉnh. Những chuyến đi điền dã, những cuộc tiếp xúc với các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian, những cuộc khảo cứu về đình chùa, am miếu... đã giúp cho các tác giả của 45 bài viết có nhiều dữ liệu để phác họa một cách chân thực bộ mặt và kho tàng văn hóa đa dạng, giàu có của những mảnh đất có bề dày lịch sử hàng mấy trăm năm nay.

Là tập sách có nhiều bài viết của nhiều tác giả nên độ dài của các bài nghiên cứu không giống nhau, nhưng đáng chú ý nhất là 2 bài của Lê Nguyễn Lưu: 1 bài dài 101 trang và 1 bài dài 67 trang. Dù độ dài ngắn có khác nhau, song các bài viết đều hướng vào việc nói về các làng cổ trên các bình diện: vị trí địa lý, đất đai, sông núi, lịch sử hình thành, dân số, cơ cấu tổ chức, sinh hoạt lễ tết, lễ hội, các công trình kiến trúc đền chùa, am miếu, tín ngưỡng, tôn giáo, học hành, khoa cử, kho tàng văn nghệ dân gian... Dĩ nhiên, không phải bài viết nào cũng có đủ các phần mục như vừa nêu trên.

45 bài viết giới thiệu với độc giả 41 làng cổ (có 3 làng được 2 tác giả cùng viết với 2 bài khác nhau) và 1 làng mới của tỉnh nhà. Các làng được nêu trong các bài viết đa phần nằm ở vùng đồng bằng từ ven TP. Huế ra đến Phong Điền, Quảng Điền và vào Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc. Ở huyện A Lưới có bài viết về làng A Hưa (làng cổ) của Trần Nguyễn Khánh Phong và bài viết về làng Quảng Phú (làng mới) của Thành Phiên. Các làng ở vùng đồng bằng đa phần là các làng hình thành từ thời các chúa Nguyễn trị vì và rất nổi tiếng về nhiều mặt, ví như các ngành nghề thủ công, việc khoa cử, học hành, các di tích lịch sử - văn hóa. Xin được kể tên một số làng tiêu biểu có trong sách “Làng văn vật Thừa Thiên Huế”: An Cựu, An Truyền, Dạ Lê, Dương Nổ, Hiền Lương, Kim Long, Nam Phổ, Nguyệt Biều, Phương Diên, Văn Xá, Vỹ Dạ, Thai Dương, Thủ Lễ...

Nhìn chung, tập sách giúp cho bạn đọc gần xa có những hiểu biết đầy đủ hơn về các làng quê xứ Huế trên rất nhiều phương diện. Chúng ta, qua từng trang sách càng thấy yêu mến hơn, tự hào hơn về các làng quê - nơi chôn rau, cắt rốn của hàng chục triệu người Việt Nam. Hy vọng, trong những năm sắp tới đây, Hội Văn nghệ Dân gian Thừa Thiên Huế sẽ tổ chức và xuất bản các tập sách tiếp theo về các làng quê vùng văn hóa Cố đô.

Huy Thảo
http://baothuathienhue.vn
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Rồng là một con vật huyền thoại, đứng đầu tứ linh (long - lân - quy - phụng) Theo sách Thuyết văn giải tự trong 389 loài bò sát có vảy thì rồng là loài đứng đầu và có sức mạnh vô song.
  • Huế là quà tặng của thiên nhiên dành cho Tổ quốc nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt diệu. Riêng với người dân miền Trung đêm ngày vật lộn với thiên tai khắc nghiệt để sinh tồn và phát triển, Huế là một sự đền bồi cho những thiệt thòi họ gánh chịu, như gia đình nghèo mà may mắn sinh được con gái đẹp vậy. Nhà thơ nào đến Huế lại không có thơ viết về Huế để trả ơn mảnh đất đã khơi nguồn thi hứng cho mình.
  • Một đêm ca Huế trên sông Hương giữa tiếng sóng nước ru vỗ vào mạn thuyền rồi lan xa, lan xa... Trăng càng về đêm càng vằng vặc giữa thinh không tĩnh mịch... Giọng hát, tiếng đàn đã thực sự ru tâm hồn ta vào một miền ký ức sâu thẳm nhuộm tím lòng người mà không sao quên được đó, Huế ơi!
  • Cách đây hơn 45 năm hai nhạc sĩ Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba đã tổ chức ghi âm nhạc cung đình Việt Nam giới thiệu với thế giới... Ngày 31/1/2004, GS.TS nhạc sỹ Trần Văn Khê sau khi nghe Nhã nhạc Huế vang lên ở Paris, ông vẫn còn nguyên cảm xúc...
  • Với hơn 3700 hiện vật, bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế) tương đối phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn được bảo tồn tại Việt Nam.
  • Nhiều người thống nhất với ý kiến cho rằng Ca Huế là đỉnh cao lối diễn xướng đơn lẻ của ca hát truyền thống của dân tộc. Âm nhạc của Ca Huế thu nạp tinh hoa của nhạc cung đình, nhạc cửa quyền và tinh hoa của các làn điệu hò, lý ở miền Bắc và miền Trung. Những bài bản, làn điệu Ca Huế có khi có họ hàng, liền mạch với nhau như một tổ hợp liên hoàn.
Về đầu trang