Đăng nhập | Đăng ký | Đăng ký quảng cáo 
 
Bộ sưu tập gốm sứ của Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế
Thứ Tư, 26/09/2012 09:40  
 
Với hơn 3700 hiện vật, bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế) tương đối phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn được bảo tồn tại Việt Nam.

Sưu tập gốm sứ tại Bảo tàng này rất đa dạng, bao gồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (thế kỷ XI- XIV), gốm hoa lam thời Lê (thế kỷ XVI-XVII), gốm thời Mạc (thế kỷ XVI), gốm trang trí thời Nguyễn (thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), gốm sứ Trung Hoa thời Minh – Thanh ( thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XX ) và gốm sứ Pháp. Sự phong phú còn được thể hiện trên phương diện kiểu dáng và loại hình trong một tiến trình lịch sử gần 10 thế kỷ.  Đặc biệt BTMTCĐ Huế có một sưu tập đồ sứ Trung Quốc đồ sộ, chủ yếu là đồ sứ men trắng vẽ lam thời Minh – Thanh (cuối thế kỷ XIV – đầu XX), mà người Trung Hoa vẫn gọi là Thanh Hoa . Nguồn cổ vật này phần lớn được sản xuất từ các địa phương Giang Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc). Sự hiện diện của chúng trong Bảo tàng này có lẽ từ con đường ngoại giao (vật ban tặng, ký kiểu) và thương mại (do vua chúa Việt Nam và quan lại trong nước mua về từ Trung Quốc để phục vụ cho các nhu cầu của cung đình).

Cặp lồng sứ men lam

Trước hết, đối với nhóm hiện vật gốm, BTMTCĐ Huế lưu giữ khoảng 700 hiện vật gồm các loại gốm mộc, gốm tráng men… từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với gốm thời Lý-Trần, ở đây còn giữ được những chiếc ấm tích men ngọc, những chiếc vò bằng gốm nâu, đáng kể nhất là những chiếc dĩa men ngọc trang trí hoa lá theo lối vẽ ám họa, đế để mộc. Đặc biệt, trong sưu tập này còn có một chiếc thố hoa nâu trang trí hoa lá xen kẽ với các họa tiết tô màu nâu giới hạn trong các nét khắc chìm, một phong cách trang trí điển hình của thời Trần. Về gốm thời Mạc, Bảo tàng còn giữ được khoảng 10 hiện vật, trong đó loại hình chân đèn chiếm đa số. Đó là những chân đèn hình con tiện làm bằng gốm trắng có lớp men phủ màu trắng xám hay trắng ngà. Hoa văn được thể hiện theo hai phong cách : vẽ trực tiếp trên xương đất với lối vẽ phóng bút hoặc đắp nổi trên thân hiện vật những đồ án rồng mây, lá đề. Sự góp mặt của đồ sành trắng hoa lam thời Lê trong sưu tập này là không đáng kể, chủ yếu là một vài chiếc dĩa ăn và hai chiếc kandy, trang trí hoa lá cúc cách điệu trong những ô hình đầu cánh hoa.

Dĩa sứ

Dưới thời Nguyễn, nền kỹ nghệ gốm sứ bị sa sút mặc dù các vua chúa nhà Nguyễn rất chú trọng phát triển nghề này. Từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần triều đình đã thiết lập chế độ tượng cục ( các công xưởng của nhà nước ) mà lúc đông nhất đã lên tới 70 tượng cục ( thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì ), chiêu tập thợ thủ công vào làm việc với tư cách là những người lính thợ. Một trong những tượng cục rất phát triển thời ấy là Nề ngõa tượng cục còn duy trì cho đến thời vua Đồng Khánh. Nề ngõa tượng cục đã sản xuất nhiều loại gạch ngói xây dựng, gạch ngói trang trí phục vụ cho công cuôc kiến thiết thủ phủ Phú Xuân và kinh đô Huế sau này. Những sản phẩm này vẫn được lưu giữ trong BTMTCĐ Huế. Dưới thời Gia Long ( 1802-1820) nhà vua cho lập một xưởng chế tác đồ gốm tại LongThọ ( phía tây nam kinh đô Huế ) do nhà nước trực tiếp quản lý. Triều đình cho mời một người thợ Trung Quốc, tên là Hà Đạt quê ở Giang Tây và 3 người thợ khác từ Quảng Đông đến Long Thọ dạy nghề cho các lính thợ người Việt với kỳ vọng nâng cao kỹ nghệ gốm sứ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Đất sét phục vụ cho công xưởng này lúc đầu được khai thác trực tiếp dưới chân đồi Long Thọ nhưng về sau do chất lượng không tốt nên phải lấy đất ở những vùng xa hơn như Triều Sơn, Vân Cù ( cách Huế 15-20km về phía Bắc ) Tuy nhiên, do điều kiện của lò nung, nguyên vật liệu, và trình độ kỹ thuật nên đồ gốm ở Long Thọ chỉ đạt đến trình độ gốm tráng men cao cấp mà thôi. Những sản phẩm này được sử dụng trong kiến trúc và trang trí cung điện thời Nguyễn trên đất Huế. Ngoài những đồ án trang trí thông thường còn có những đồ án tứ linh, hổ phù, những bức phù điêu với các đề tài dân dã trang trí ở các đầu đao, cổ diềm, lá mái, mà điện Ngưng Hy trong lăng Đồng Khánh là một điển hình. Về sau, nhờ sự sưu tập của Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Association des Amis du Vieux Hué) – cơ quan tiền thân của Museé Khải Định ( tức BTMTCĐ Huế sau này), những sản phẩm của lò gốm Long Thọ đã có mặt trong sưu tập này.

 

Đặc biệt, nơi đây còn giữ được nhiều tượng gốm như tượng chư vị đức Phật, tượng Hộ pháp, tượng Kim Cang, tượng Quan Công…từ các ngôi chùa ở Huế và phụ cận. Đáng chú ý là bộ tượng Thập điện Minh Vương sưu tập từ Khương Ninh Các – một di tích tôn giáo độc đáo tọa lạc bên trong Hoàng Thành Huế – là bộ tượng hoàn chỉnh nhất và đạt đến trình độ nghệ thuật cao nhất trong kỹ nghệ chế tác gốm sứ cũng như nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.

 

Phần quan trọng trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập những đồ sứ men trắng vẽ lam do các triều vua chúa Việt Nam thời Lê Trịnh và thời Nguyễn đặt mua từ các lò sứ Trung Quốc, mà chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đồ sứ ký kiểu để định danh, thay cho thuật ngữ Đồ sứ men lam Huế (Bleus de Hué) vẫn được giới chuyên môn và những nhà sưu tập sử dụng, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng này.

Tô sứ

Những cuộc tranh luận về đồ sứ ký kiểu trong vài năm gần đây của các nhà khảo cứu đã cho biết nguồn cổ vật đặc biệt này được các vua chúa Việt Nam thời Lê-Trịnh, Tây Sơn, thời tiền Nguyễn (tức thời các chúa Nguyễn thống lĩnh Đàng Trong) và thời Nguyễn đặt làm từ các lò sứ Ngự chế và Quan chế dưới triều Thanh (Trung Quốc) (1), và đã tạo ra những dòng đồ sứ ký kiểu nổi danh như đồ Nội Phủ – Khánh Xuân (thời Lê-Trịnh), đồ Tây Sơn, đồ chữ Nhật () (thời Nguyễn)… trừ đồ sứ ký kiểu thời Tây Sơn là hoàn toàn vắng mặt trong BTMTCĐH, những dòng đố sứ khác thuộc hệ Thanh Hoa Từ của hai triều: Lê – Trịnh và Nguyễn đều góp mặt nơi đây.

Về đồ sứ Nội Phủ-Khánh Xuân của triều Lê-Trịnh, gốc gác của chúng vốn ở Đàng Ngoài và được ký kiểu chủ yếu trong giai đoạn 1767 – 1786, tức là chủ yếu từ thời chúa Trịnh Sâm trở đi. Tại sao chúng có mặt tại Bảo tàng này?. Theo thiển ý có hai giả thuyết đáng lưu tâm: thứ nhất, sau khi tiến quân ra Bắc Hà lần thứ nhất vào mùa thu năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thâu tóm một phần quan trọng của cải của vua Lê, chúa Trịnh đem về Phú Xuân rồi sau đó lại bị đoạt lấy bởi triều đại nhà Nguyễn. Các đoạn trích dưới đây có thể minh chứng cho điều ấy:..Về Cống Chỉnh, tôi cho là một người điển hình đi trước thời cuộc, một Tào Tháo cận kim thời đại, biết hết nơi nào có của báu xứ Bắc nhường cho vua Quang Trung lựa đồ sứ và báu vật lấy về (TĐAS), còn bao nhiêu vàng bạc, Chỉnh đều tóm thâu…(2). Suốt ngày 17/8 Bính Ngọ (1786) Huệ cố giữ Chỉnh trong dinh nói chuyện lan man. Đến canh ba đêm đó, một ám hiệu truyền ra, quân Tây Sơn nai nịt sẵn, cả thủy lục lặng lẽ kéo đi, bao nhiêu của cải trong kho đụn Bắc Hà đem đi theo cả (VHS) (3). Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành (tức Quy Nhơn – TĐAS) Huệ đến Phú Xuân đóng binh lại, không tiến nữa, sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi bắc chinh chưa lấy được. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ làm Bắc Bình Vương và hỏi các hóa bảo lấy được ở phủ Trịnh. Bắc Bình Vương chống mệnh không chịu dâng (4). Với những dẫn chứng trên đây, việc cho rằng số đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh hiện có mặt tại BTMTCĐH là do nhà Nguyễn đoạt lại từ tay vương triều Tây Sơn không phải là không có căn cứ. Giả thuyết thứ hai cho rằng đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh có trong BTMTCĐ Huế là do công lao sưu tập của các thành viên A.A.V.H. (Association des Amis du Viuex Hué) trong giai đọan tiền thân của Musée Khải Định. Điều này xem ra có vẻ có lý hơn bởi các thành viên của A.A.V.H. đã làm thật tốt công việc sưu tập đó với nhiều loại hình cổ vật có trên dải đất Thuận Hóa và các vùng phụ cận, nhất là đối với các tượng Chàm. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Musée Khải Định vào năm 1923.

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh có ở BTMTCĐ Huế tuy không nhiều nhưng cũng góp mặt khá đầy đủ các hiệu đề: Nội phủ thị trung, Nội phủ thị hữu, Nội phủ thị nam, Nội phủ thị đông, Nội phủ thị đoài, Nội phủ thị bắc, Khánh Xuân và Khánh Xuân thị tả. Riêng đồ sứ có hiệu đề Khánh Xuân, hiện BTMTCĐ Huế chỉ có một hiện vật duy nhất. Đó là một cái dĩa vẽ rồng. Những hiệu đề khác, hiện vật tương đối phong phú, bao gồm các loại chậu hoa, ống phóng, đĩa, bát và khay trà. Phần lớn hiện vật đều nguyên vẹn.

 

Về đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, BTMTCĐ Huế hiện là nơi đứng đầu Việt Nam về số lượng hiện vật tàng trữ. Dưới triều Nguyễn, theo Đại Nam thực lục cho biết đã có 26 sứ đoàn (5) đi sứ Trung Quốc. Những sứ bộ này, ngoài nhiệm vụ chính làm cầu nối bang giao giữa hai triều Nguyễn-Thanh, còn đặt nhiều đồ sứ mang về nước. Những đồ sứ này có ghi niên hiệu các vua nhà Nguyễn hoặc các năm đi sứ lên đáy hiện vật, cũng như có lấy một số phong cảnh và địa danh Việt Nam làm đề tài trang trí. Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, dòng đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn trong khoảng thời gian từ 1804 – 1824, có tất cả là 46 loại hiệu đề (6), thì số hiện vật sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có đến 29 loại hiệu đề. Nhận diện toàn bộ hiện vật sứ ký kiểu ở đây, chúng tôi có mấy nhận xét:

 

- Thứ nhất, đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn rất phong phú về số lượng và loại hình. những hiện vật này được ký kiểu trải dài theo tiến trình ký kiểu dưới triều Nguyễn, từ lần ký kiểu đầu tiên với hiệu đề Giáp tý niên chế đến lần ký kiểu cuối cùng với loài đồ sứ có hiệu đề Khải Định giáp tý niên tạo và rải đều dưới tất cả các triều vua có ký kiểu đồ sứ chứ không tập trung vào một triều đại nào.

 

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

- Thứ hai, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn ở Bảo tàng này đa dạng về tất cả các loại hình: đồ trang trí, đồ sinh hoạt; đồ nghi lễ; tế tự; cũng như phong phú đối tượng sử dụng: ngự dụng, quan dụng, dân dụng. Đặc biệt nhóm đồ sứ trang trí có rất nhiều hiện vật thuộc loại lớn như đôn, chậu, thống…vốn là vật trang trí ở các sân chầu, cung điện. Trong khi đó lại hiếm vắng tranh tượng trang trí. Đối với nhóm đồ sứ sinh họat, hiện vật trong BTMTCĐ Huế chủ yếu là đồ dùng cho nhu cầu ăn uống, rất hiếm đồ trà. Đây là điều trái ngược hoàn toàn với các sưu tập tư nhân và các bảo tàng khác trong nước. Các nhà sưu tập khi bắt đầu chơi cổ ngoạn thường sưu tầm các món đồ nhỏ, rẻ tiền rồi sau đó mới tiến tới sưu tầm các cổ vật lớn, quý hiếm và đắt tiền. Trong khi đó, nguồn đồ sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có nguồn gốc trực tiếp từ cung đình Huế, đặt biệt là do di chuyển, tiếp nhận từ các lăng tẩm, cung điện nên phong phú về chủng loại, nhất là các hiện vật có kích thước lớn. Trong lịch sử tồn tại của mình, một số cổ vật của BTMTCĐ Huế đã thất thoát do chiến tranh và mất cắp, cũng như do những nhân vật có thế lực trong chính quyền cũ lấy đi vào các thời điểm éo le của lịch sử như 1947, 1968, 1972… Họ đã chọn những cổ vật nhỏ nhưng quý hiếm để mang đi cho thuận tiện. Kết quả là nguồn cổ vật nhỏ ở đây không nhiều và quý bằng nguồn cổ vật có kích thước lớn. Đó cũng là cái may trong cái rủi của BTMTCĐ Huế vậy !

- Thứ ba, ngoài nguồn đồ sứ có gốc gác từ cung đình Huế với các món đồ ngự dụng đề rõ niên hiệu các vua Nguyễn như Minh Mạng niên chế, Thiệu Trị niên tạo,Thiệu Trị niên chế, Tự Đức niên tạo…với các mô típ trang trí đặc trưng cho sự quyền quý, cho ngôi vị đế vương như tứ linh, bát bửu, được sưu tập và tàng trữ một cách tất yếu, nơi đây còn có những đồ sứ quan dụng, vốn chỉ có ở các quan phủ, vương phủ, không hiểu sao lại góp mặt trong Bảo tàng này. Đó là các hiện vật có hiệu đề: Đặng Huy công từ, Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường…hay các hiện vật vẽ tích Mai hạc với hai câu thơ chữ Nôm tương truyền là do thi hào Nguyễn Du ứng tác: Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen. Chính điều này đã khiến cho sưu tập đồ sứ ký kiểu nơi đây thêm đa dạng và hấp dẫn.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

- Thứ tư, do có số lượng lớn nên sưu tập đồ sứ ở BTMTCĐ Huế có rất nhiều hiện vật độc đáo và qúy hiếm. Ở đây lưu giữ được hai hiện vật có hiệu đề Giáp tý niên chế – một chiếc tô do ông Hy Bách ở thành phố Hồ chí Minh hiến tặng và một chiếc đĩa có gốc gác từ thuở Bảo tàng mới khai sinh. Loại hiện vật ký kiểu có hiệu đề này, hiện nay giới sưu tập và giưới chuyên môn chỉ biết không quá đầu ngón tay. Ở đây còn có những hiện vật sứ được coi là độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu như chiếc đầu hồ bằng sứ vẽ rồng năm móng mang những đặc trưng rất Huế và rất Nguyễn, hay bộ đĩa ba cái trang trí các đồ án phượng hoàng, ngư tảo có hiệu đề: Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường… do Đặng Huy Trứ mang về năm 1868. Đặc biệt, có những hiện vật như loại tô vẽ phong cảnh ngã ba Bằng Lãng (trước lăng Minh Mạng) có đề bài thơ chữ Nôm Một thức nước in trời…, đáy có chữ Nhật vốn được coi là quý hiếm, các bảo tàng khác và các sưu tập tư nhân chỉ có một chiếc thì đã lấy làm vinh hạnh. Vậy nhưng, loại tô này ở BTMTCĐ Huế lại có đến 282 chiếc (!).

Trên đây là những ý kiến cá nhân chúng tôi về sưu tập đồ gốm sứ trong BTMTCĐ Huế. Ngoài nguồn gốm sứ có nguồn gốc bản địa và Trung Quốc, BTMTCĐ Huế còn có hàng trăm hiện vật gốm sứ Nhật Bản và Pháp. Đó cũng là nguồn cổ vật quý rất đáng khảo cứu và trưng bày. Tiếc rằng do những khó khăn về điều kiện trưng bày nơi đây bởi diện tích trưng bày hạn chế, hệ thống tủ kệ và chiếu sáng chưa đáp ứng, nên phần lớn nguồn cổ vật này vẫn đóng kín trong kho, chỉ có một số rất ít được mang ra phục vụ du khách. Hy vọng rằng trong một tương lai không xa, khi BTMTCĐ Huế xây dựng được phòng trưng bày chuyên đề thì sưu tập gốm sứ nơi đây, trong đó có đồ sứ ký kiểu, sẽ trở thành một chuyên đề chính với đầy đủ chủng loại, dáng kiểu, niên đại và loại hình, sẽ được ưu tiên tuyển chọn và trưng bày để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước.

 

TS. Trần Đức Anh Sơn

 

 

 


TS. Trần Đức Anh Sơn
 
In ấn  Bản in   Gửi bạn bè 
 
Gửi bạn bè
 
* Họ và tên:
* Email của bạn:
* Email của người nhận:
Nội dung:
    Gửi Nhập lại
 
Các bài viết khác
 
Dành cho quảng cáo
Hỗ trợ trực tuyến