Đăng nhập | Đăng ký | Đăng ký quảng cáo 
 
Đô thị Huế thời kì Pháp thuộc (1885 – 1945)
Thứ ba, 01/10/2013 11:00  
 
Đô thị hóa trở thành vấn đề mang tính tổng hợp bao gồm nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực từ kiến trúc, kinh tế, môi trường cho đến văn hóa xã hội đang diễn ra hàng ngày, hằng giờ. Điều này đã làm nảy sinh nhiều hệ quả cần giải quyết trên nhiều măt.

Khách sạn Sài Gòn Morin cũ (ảnh sưu tầm)

Có lẽ vì thế mà người ta giải quyết những vấn đề khó khăn cuả đô thị trên nhiều bình diện và ở từng giai đoạn khác nhau nhằm khắc phục những yếu điểm của đô thị, phát huy đến mức cao nhất của đô thị để phục vụ cuộc sống con người.

Huế là một trong những đô thị của Việt Nam có bề dày lịch sử - văn hóa đầy tự hào, là đô thị phản ánh quá trình phát triển của đất nước dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Cho đến nay, Huế được không ít người biết đến là thành phố nằm cạnh sông Hương thơ mộng với những di tích lịch sử như thành quách, cung điện, lăng tẩm, phủ đệ…, do các vua Nguyễn xây dựng còn tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, phát triển đô thị Huế trãi qua những thăng trầm lịch sử, biến cố theo thời gian mà nó phản ánh cũng chưa có nhiều người biết đến. Quá trình đó được thực hiện qua nhiều khía cạnh của nhiều vấn đề làm nên sự phát triển chung trong bức tranh toàn cảnh của đô thi Huế từ khi ra đời cho đến nay. Qua bài viết này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự phát triển đô thị Huế trong thời kì Pháp thuộc (1885 – 1945).

Bước sang một thời kì mới - thời kì Pháp thuộc, quá trình đô thị hóa đã được đẩy mạnh đặc biệt là ở bờ sông Hương với tính chất “xi măng hóa” ngày càng nhanh. Các công trình xây dựng kiên cố, đặc biệt là các công sở được dựng lên, hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng được cải thiện. Mạng lưới giao thông vận tải (cầu, đường), hệ thống cung ứng điện, nước, trường học lần lượt được xây dựng. Tình hình kinh tế được chuyển dịch dần từ kinh tế tiểu nông sang kinh tế tư bản. Các giai tầng mới (tư sản, tiểu tư sản) xuất hiện và ngày càng gia tăng số lượng, làm đậm đà thêm đời sống đô thị bị “khuấy động” hơn.

Trong 60 năm, đô thị Huế chuyển dịch dưới sự điều chỉnh của Thực dân Pháp. Quá trình đô thị hóa giai đoạn này đã không mang nặng tính chất “đô thành hóa” như giai đoạn trước. Đứng dưới góc độ đô thị, thực dân Pháp đã thổi một “cơn gió mới” vào quá trình đô thị hóa Huế cơ sở tôn trọng và tiếp thu các yếu tố truyền thống.

Từ năm 1775, sau Tòa Khâm sứ Trung Kì được dựng tại bờ nam sông Hương (1774) thì cùng với Tòa Khâm Sứ của triều đình thì Thương Bạc Viện cũng được đặt tại phía đối diện ở bờ bắc nhằm đối phó với Tòa Sứ Pháp ở bên kia sông. Sau hiệp ước Patenôtre (6/6/1884), Pháp chiếm đóng ở khu vực Trấn Bình Đài cùng với việc xây dựng một tòa thành hình thoi tương đương Mang Cá nhỏ mà về sau được nhân rộng lên với quy mô gấp 3 lần với tường thành hình vuông cao 4m và hệ thống lỗ châu mai đã làm biến dạng một phần Kinh Thành Huế. Cũng trong thời kì này, một số công trình dân sự hiện đại theo phong cách Châu Âu cũng được xây dựng. Tòa Khâm Sứ Trung Kì cùng với phố Tây được thiết lập bên bờ nam sông Hương với các đơn vị kiến trúc như: Khách sạn Morin, Sở công chánh, Câu lạc bộ Thể thao, Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Phủ Doãn, Bệnh viện Huế, nhà Công sứ, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học… , đã làm cho các trại thủy binh của nhà Nguyễn ở bờ nam sông Hương bị xóa sổ. Đô thị Huế gần như bị chia tách làm 2 phần bởi sông Hương giữa một bên là đô thị cổ kính, một bên là đô thị hiện đại.

Khách sạn Sài Gòn Morin hiện nay (ảnh sưu tầm)

Từ đầu thế kỷ thứ 20, hệ thống đường phố hiện đại được rải nhựa cũng được hình thành và được đặt tên theo những nguyên tắc định sẵn. Hệ thống đường sá nội thị chia làm ba loại: loại thứ nhất là những đường phố có chiều ngang dài trung bình, hai bên đường có nhà ở gọi là đường phố (rue); loại thứ hai là loại đường phố có chiều ngang lớn, hai bên có lề đường và độ dài tương đối, lại có cả cây xanh, nhà ở, công sở thì gọi là đại lộ (Avenue); loại thứ ba là những đường khác gọi là đường chính (đường quan) xuất phát từ ranh giới thành phố đến nơi khác. Đến đầu những năm 30 của thế kỷ 20, thành phố Huế đã có 3 loại đường chính kể trên với 5 đại lộ (Avenue), đô thị Huế đại lộ (boulevard) và hơn 50 đuờng phố trong lành (rue). Đường phố cũng được đặt theo thứ tự số chẳn một bên, số lẻ một bên, rồi ngõ ngách, kiệt, xuyệt. [3: 71].

Diện mạo đô thị Huế trước năm 1899

Kinh thành: sau khi Gia Long lên ngôi, tháng 5/ 1802, lấy niên hiệu Gia Long, ông bắt tay vào xây dựng kinh đô Phú Xuân. Kinh thành Huế gồm 11 cửa thông ra bên ngoài, nằm ở bờ Bắc sông Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500 ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hến và Dã Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ cố đô.

Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ.

Kinh thành hình vuông với chu vi 10 km, cao 6,6 mét, dày 21 mét, gồm có 10 cửa để ra vào. Xung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. ngoài ra còn có một cửa phụ thông với Trấn Bình Ðài gọi là Thái Bình Môn.

Hoàng Thành (Ðại Nội): Nằm ở khoảng giữa kinh thành là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đã quá cố. Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4 mét, dày 1 mét xung quanh có hào bảo vệ. có 4 cửa để ra vào, riêng Ngọ Môn chỉ dành để cho vua đi. Ðại Nội gồm có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp được chia ra nhiều khu vực:

   - Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà: nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.

   - Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và điện Phụng Tiên: nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.

   - Phủ Nội Vụ: nhà kho tàng chữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng cho Hoàng Gia.

   - Vườn Cơ Hạ và điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa.

Tử Cấm Thành: là vòng thành nằm trong Hoàng Thành ngay sau lưng điện Thái Hoà. Tử Cấm Thành dành riêng cho vua và gia đình vua. Tử Cấm Thành được xây dựng năm 1804. Thành cao 3,72 mét xây bằng gạch, dày 0,72 mét, chu vi khoảng 1230 mét, phía trước và phía sau dài 324 mét, trái và phải hơn 290 mét, bao gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ và có 7 cửa ra vào. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua đi vào. Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày). Càn Thành (nơi vua ở), Cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi). Duyệt Thi Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua). Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách)... Ngoài ra Huế còn nổi tiếng bởi khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn. Bảy lăng, mỗi lăng mang một sắc thái riêng nhưng đều là những kỳ công tạo tác của con người phối hợp với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp và thơ mộng của xứ Huế.

Cố đô Huế với sông Hương và núi Ngự và các cung điện lâu đài, lăng tẩm, đền, miếu, chùa chiền đã có hàng mấy trăm năm lịch sử giờ đây đang được nhân dân Việt Nam cùng cộng đồng Quốc tế đóng góp công sức và tiền của để tôn tạo tu bổ giữ cho kiến trúc cố đô Huế mãi mãi là di sản văn hoá của nhân loại. Bên trong kinh thành có nhiều công trình kiến trúc như Lục Bộ, Viện Cơ Mật, Quốc Tự Giám, Điện Long An, Quốc Sử Giám,… , hoàn thành có thể chia ra làm chín khu vực ngăn cách bằng tường cao 2m. Với kiến trúc theo lối Vauban đặc điểm nổi bật được bố trí từ những pháo đài góc, những pháo nhãn, đường chân thành ngoài hào. Các hệ thống hào tạo nên một tuyến phòng thủ thứ hai bằng đường thủy. Công cuộc xây dựng kinh thành Huế đầu thế kỉ XIX tiêu biểu cho kiến trúc thành lũy Việt Nam, tạo ra bộ mặt kinh đô Phú Xuân, xứng đáng là quần thể kiến trúc tiêu biểu nhất.

Lăng tẩm: Phía tây nam của Kinh Thành là hệ thống lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định,… được quy hoạch theo những tư tưởng riêng của từng ông vua. Tất cả được xếp đặt hài hòa giữa thiên nhiên thơ mộng xứ Huế là cho chốn “tang tóc mỉm cười, vui chơi thổn thức”, và được xem như là “những khu vườn của thế giới bên kia”, là “hoàng cung thứ hai” của nhà Nguyễn. Bên cạnh đó là hệ thống chùa chiền cũng được xây dựng, nổi bậc trong số đó là 4 ngôi quốc tự: Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Giác Hoàng và hàng chục ngôi chùa lớn nhỏ nằm rải rác ở Kinh sư, khiến Huế không chỉ là Kinh đô mà còn là chốn “Thiền kinh ” của cả nước.

Tư tưởng quy hoạch đô thị Huế đã thể hiện khá rõ từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết từng bộ phận. Phía tây là khu vực giành cho các công trình tín ngưỡng tôn giáo (lăng tẩm, chùa chiền, đàn miếu). Phía nam là hệ thống cảng thị. Xung quanh là làng nghề thủ công, công xưởng nhà nước, xen giữa các khu dân cư được quy hoạch theo các trục đường ngang dọc (bàn cờ) là hệ thống phố thị với mật độ dân số tăng nhanh. Khu vực quan phòng (bên trong và bên ngoài Kinh Thành) được chia thành các bàn cờ, mỗi ô một phường. Đây chỉ là những khu hành chính do triều đình đặt ra mà trong đó mỗi phường đặt một quan thự của cơ quan nhà nước, doanh trại quân đội, đền miếu, chùa chiền. Hoặc cấp cho quan lại hoặc dân chúng  xây dựng nhà ở.[ 2: 59].

Ngoài ra, khu vực hoàng tộc, quan lại cũng được quy hoạch khá ngăn nắp, hợp lý theo một trình tự chung một số thì nằm ở trong Kinh Thành còn lại được quy hoạch  theo ven đô Huế. Ngoài khu vực hai bờ sông Hương và sông Phủ Cam thì bây giờ còn chuyển thêm về hạ lưu sông.

  Vào thế kỉ 20 cùng với sự ra đời của thị xã Huế (12/07/1899) và nâng cấp lên thành phố Huế (12/12/1929) thì địa giới hành chính Huế cũng được mở rộng. Trong giai đoạn thị xã Huế (1899 - 1929), trải qua ba lần điều chỉnh, thị xã Huế hình thành nên 9 phường phân bố trên phạm vi cả tả ngạn và hữu ngạn sông Hương. Trong giai đoạn thành phố Huế (1929 - 1945), toàn thành phố được tổ chức thành 11 phường theo tên mới lấy chữ Phú làm nền chung. Khu vực phía bắc sông Hương có 3 phường là Phú Hòa, Phú Bình, Phú Thịnh. Khu vực cồn Gia Hội có 4 phường là Phú Cát, Phú Mỹ, Phú Thọ, và Phú Hậu. Khu vực phía nam sông Hương có 4 Phường là Phú Ninh, Phú Vĩnh, Phú Hội và Phú Nhuận. [3: 57- 58].

Nhìn chung, đô thị Huế trong thời kì Pháp thuộc thay đổi theo chiều hướng mở rộng và tăng cường về quy mô và diện mạo. Sự xuất hiện của thực dân Pháp đồng nghĩa với sự xuất hiện của một nền kinh tế tư bản - Thực dân ở Huế còn ở mức độ thấp nhưng phần nào làm thay đổi phần “thị” của Huế.

Ngoài các khu phố thị cũ thì các khu phố thị mới cũng xuất hiện từ phía triều đình, Thực dân và nhân dân tự xây dựng. Sách Đại Nam nhất thống chí đời Duy Tân có ghi chép: “Phố cửa Đông từ bờ Nam cầu Đông Gia chạy ra phía Bắc cầu Thanh Long, chạy vào phía Nam đến cầu Gia Hội, dãy trại dàn phía Đông kinh thành và ngoài quách cửa Chánh Đông… năm Đồng Khánh nguyên niên (1886) chuẩn cho hai bên tả hữu ngoài quách cửa Chánh Đông và dọc theo bờ sông cho quân cùng dân làm phố, chịu thuế, do Bộ Hộ và Bộ Công chỉ thị quy thước đo đạt tiêu chí, sứ sở chia làm 3 dãy nhưng phải lợp ngói, đợi làm xong kiểm xét được bao nhiêu phố sẽ do Bộ nghị định thuế lệ. Từ năm Thành Thái thứ hai (1890) về sau mỗi người đều y theo sứ sở đã tiêu đạt hoặc cất dần phố dài, hoặc cất phố hai tầng; trước sau đều có con đường thông hành. Mặt sau lại có hai dãy phố đối diện nhau, ở giữa có con đường, buôn bán hàng hóa cũng được trù mật”.[4: 143].

Với những ghi chép như vậy T.S. Nguyễn Văn Đăng đã có nhưng lời nhận xét tinh tế rằng: “rõ ràng phố bây giờ không còn đơn tuyến mà còn có “hai con đường” vuông góc với phố cửa Đông là phố Trường Tiền được khai sinh vào năm 1889 (Thành Thái 11) tiêu đạt chia cho quan dân, ai muốn nhận phần cất phố thì mỗi người nhận là một sổ, tường phố liên lạc dài thẳng nột cây,  người Hán- Thanh ở xen nhau buôn bán, sánh vai với các phố có trù mật hơn. Trước mặt phố đắp đường quan, nhân dân qua lại, xe ngựa rong ruổi. Giữa đô thị có cảnh trí xe chạy đụng bánh người di chen vai nhau vậy.”[2: 74].

Bên cạnh phố Trường Tiền và phố Cửa Đông, chợ Đông Gia với tầm vóc lớn nhất kinh kỳ ra đời trên nền tảng chợ Quy Giả. Đây là một khu thương mại bề thế. “Phạm vi chợ có mặt bằng hình vuông. Ở đình giữa xây dựng một lầu nhỏ 3 tầng lợp ngói. Bốn mặt của tầng trên cùng đều có gắn đồng hồ để  báo cho mọi người trong chợ. Trên chóp lầu có gắn mũi tên chỉ hướng gió đang thổi. Chung quanh khuôn viên là bốn dãy quán chạy giáp vòng, tổng cộng có 48 gian chợ còn có giếng xây bằng đá, người ta lấy nước lên dùng bằng  máy quay tay” [1: 255].

Cùng với ba khu chợ sầm uất này, thì một số cơ cấu kinh tế mang tính thực dụng cũng được người Pháp xây dựng như trường Canh Nông (1990), trạm quan sát thời tiết khí hậu (1904), Công ty Kĩ Nghệ và Thương Mại Trung Kì (1907), hai nhà máy rượu tại Phủ Cam và phường rượu An Thành, Công ty Vôi Long Thọ (1911), Nhà máy điện (1919), Nhà máy nước…Như vậy, nhìn chung vào giai đoạn Pháp thuộc đô thị Huế đã có một số chuyển đổi khá quan trọng, hai khu phố cổ và hiện tại được quy hoạch làm nền tảng cho việc quy hoạch đô thị Huế hiện tại giữa hai bờ sông. Nếu như phần “đô” được bổ sung bởi các công trình hành chính - dân sự thì phần “thị” ở Huế cũng dịch chuyển theo xu hướng bám sát phần “đô” hơn. Các khu phố- chợ mới ra đời, các hoạt động thương mại cũng khá nhộn nhịp. Đời sống đô thị ngày càng đậm đà hơn. Nói tóm lại “tất cả những biến đổi của vùng đô thị, những diện mạo mới ở vùng kinh kỳ trong thời Pháp đô hộ đã làm cho đô thị Huế chuyển từ đô thị trung cổ sang đô thị cận hiện đại một cách hài hào tự nhiên, có những vùng không gian chuyển tíêp thật hiệu quả, sánh cùng Hà Nội, Sài Gòn, trở thành biểu tượng của đất nước Việt Nam ” [2: 78].

Trải qua hai giai đoạn phát triển (thời tự trị và Pháp thuộc), đô thị Huế đã có những thay đổi ở một mức độ tương đối nhằm tương đối với vị trí Kinh đô của cả nước. Nhìn chung thì dù ở giai đoạn nào, thì sông Hương cũng chính là nhân tố hàng đầu trong việc quy hoạch nên diện mạo của đô thị Huế. Sông Hương vừa có chức năng phân định các khu vực, các đơn vị kiến trúc, vừa như là một dải lụa tự nhiên kết nối chúng lại với nhau khiến chúng trở nên hài hòa giữa một không gian trữ tình của đất trời và tạo hóa. Sông Hương đóng vai trò to lớn đối với đô thị Huế.

Tất cả những biến đổi của vùng đô thị cũ, những diện mạo mới ở vùng kinh kỳ trong thời Pháp đô hộ đã làm cho đô thị Huế chuyển từ đô thị Trung cổ sang đô thị Cận Hiện đại một cách hài hòa tự nhiên, có những vùng không gian chuyển tiếp thật hiệu quả, sánh cùng Hà Nội, Sài Gòn,… vấn đề đặt ra hiện nay là phải tôn tạo, bảo tồn khai thác di sản đô thị ở Huế dưới triều Nguyễn và Pháp thuộc, định hướng quy hoạch cấu trúc thành phố mới trên cơ sở bố trí hợp lý các cụm dân cư, cấu trúc đô thị xen lẫn với cảnh quan, môi trường nhằm tránh được sự bế tắc của các đô thị công nghiệp đang phát triển.

Như vậy, với việc đô thị hóa ở Huế đã hình thành khu phố tây ở bờ nam sông Hương, bên cạnh các khu nhượng địa khác. Bộ mặt đô thị Huế từng bước thay đổi một cách nhanh chóng. Điều đó một phần có dấu ấn mạnh mẽ của người Pháp, là dấu ấn phát triển của kinh tế đô thị. Bên cạnh các quan hệ kinh tế đã có từ trước, việc du nhập nền kinh tế tư bản của Pháp đã tác động mạnh mẽ đến nhiều vấn đề của đô thị Huế giai đoạn (1885 – 1945).

 

Tài liệu tham khảo:

1.            Phan Thuận An (2008), Huế xưa và nay: Di tích- Danh thắng, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội.

2.            Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (2000), Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế.

3.            Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh & Hội Khoa học Lịch sử tỉnh TT.Huế, Tiến trình phát triển đô thị ở TT.Huế- Đặc trưng và kinh nghiệm lịch sử, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Huế (2005).

4.            Ủy ban Nhân dân Thành phố Huế (1999), Phú Xuân- Huế từ đô thị cổ đến hiện đại.


Tuân Phước
 
In ấn  Bản in   Gửi bạn bè 
 
Gửi bạn bè
 
* Họ và tên:
* Email của bạn:
* Email của người nhận:
Nội dung:
    Gửi Nhập lại
 
Các bài viết khác
Phong thủy qua các đời vua Việt Nam - Bài 13: Lăng Thiên Thọ và những “ẩn số vàng” ở cửa Ngọ Môn (22/10/2013)
Chuyện về khu mộ địa thái giám duy nhất ở Việt Nam (22/10/2013)
Phong thủy qua các đời vua Việt Nam - Bài 11: Phú Xuân – Vùng đất xưng vương (21/10/2013)
Phong thủy qua các đời vua Việt Nam - Bài 10: Kim Long – Một cuộc đất trữ tình (17/10/2013)
Ngắm nhan sắc Hoàng hậu Nam Phương qua ảnh (17/10/2013)
Phong thủy qua các đời vua Việt Nam - Bài 7: Ngọn đồi thiêng của nhà Nguyễn (16/10/2013)
Điều chưa biết về cuộc cải cách của vị Vua "Lai căng" (14/10/2013)
8 nhà tù hút khách tham quan ở Việt Nam (09/10/2013)
Những bí ẩn về kho báu của vua Hàm Nghi (09/10/2013)
Hậu cung triều Nguyễn, từ sử sách đến dấu tích (04/10/2013)
 
 
Dành cho quảng cáo
Hỗ trợ trực tuyến