Chuyện Thái hậu Từ Dũ dạy vua Tự Đức
Thái hậu Từ Dũ (hay Từ Dụ) tên thật là Phạm Thị Hằng, sinh năm 1810 tại giồng Sơn Qui, nay thuộc xã Long Thuận, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Bà là ái nữ của Thượng thư Bộ lễ Phạm Đăng Hưng. Năm 14 tuổi bà được vợ vua Gia Long là Thuận Thiên Cao hoàng hậu tuyển vào cung làm vợ vua Thiệu Trị, sau đó bà sinh ra Nguyễn Phúc Hồng Nhậm- tức vua Tự Đức sau này.
Ngoài nổi tiếng xinh đẹp, thông minh, đức hạnh và hết mực yêu thương nhân dân, Thái hậu Từ Dũ còn được biết đến là người mẹ rất giỏi nuôi dạy con cái. Chính nhờ đức tính đó của bà mà vua Tự Đức trở thành một trong những vị vua hiếu học, hay chữ và biết yêu thương bá tánh bậc nhất dưới thời phong kiến ở nước ta.

Lịch sử ghi lại rằng, trong cuộc sống hàng ngày, Thái hậu Từ Dũ có tính tình đoan chính, cử chỉ lễ độ, khiêm nhường. Là người rất nghiêm khắc với tệ nạn xa hoa lãng phí, tham ô nên bà thường răn dạy vua Tự Đức và triều thần tránh xa những điều này.


Tượng Thái hậu Từ Dũ và phác họa chân dung vua Tự Đức. Ảnh: T.L

Thái hậu Từ Dũ quan niệm rằng, của bất nghĩa được vài đời đã khánh tận, về sau con cháu sẽ cùng khổ, thiên hạ chê cười, con người phải làm điều nhân nghĩa, lưu truyền phước trạch lâu dài. Mỗi lần vua Tự Đức vào hầu, bà thường khuyên dạy con và nhà vua ghi lại những lời dạy bảo của mẹ vào một cuốn sách có tên là Từ huấn lục. Bà nói với vua Tự Đức: “Người trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan, phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc, chỉ lo là bất tài mà thôi. Ngoài ra, kẻ làm điều trái phép, Hoàng đế nên triệu về kinh, nghiêm trị để làm gương cho người ta biết”.

Đối với những vị quan gương mẫu như Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình, Phạm Phú Thứ…, bà khuyên con “phải biết chọn dùng được người như thế. Dùng người tốt mới làm lợi cho đất nước”. Chuyện kể rằng, có lần vua Tự Đức ham chơi mà lơ là triều chính, quan Phạm Phú Thứ dâng biểu can gián thì bị vua tức giận cách chức đày làm lính. Chuyện đến tai Từ Dũ, bà liền bảo với vua rằng quan Phạm Phú Thứ dâng sớ như vậy là vì thương vua, muốn vua làm việc tốt nên vua cần nghĩ lại. Sau đó, vua nghe lời mẹ mà  phục chức cho quan Phạm Phú Thứ.

Theo sách Liệt truyện triều Nguyễn, Từ Dũ luôn ý thức sâu sắc về tình cảm và đạo lý của dân tộc. Có lần vua cho đội tuồng diễn cho mẹ xem tích Phàn Lê Huê giết anh, giết cha theo đúng nguyên bản Trung Quốc, xem xong bà rất bất bình bảo với  vua và đoàn tuồng rằng không nên diễn trò thất đức như vậy. “Con giết cha, em giết anh thì còn đạo lý gì nữa? Nước mình khác, nước người khác. Không được bắt chước mà làm như vậy”.

Năm 1874, khi nghe tin Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Kỳ và buộc triều đình Huế ký hòa ước nhượng địa, Thái hậu Từ Dũ buồn đau đến bỏ cả ăn uống nhiều ngày. Ngày kinh thành Huế thất thủ bà theo vua Hàm Nghi trốn ra ngoài đi Quảng Trị, nhưng rồi vì tuổi cao sức yếu bà phải cùng tam cung trở lại Huế.

Thái hậu Từ Dũ qua đời năm 1902, thọ 92 tuổi. Trong lịch sử nước nhà, bà là tấm gương sáng đã để lại nhiều bài học quý trong việc dạy dỗ con nên người. Chính vì vậy, ngay nay trong dân gian và lịch sử còn lưu truyền những giai thoại dạy con của bà. Và cũng bởi những đức tính tốt đẹp của bà mà người ta đã chọn tên bà để đặt tên cho Bệnh viện Từ Dũ ở TP. Hồ Chí Minh.

An Sơn
Báo Dân Việt
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Vùng Huế với tên xưa Thuận Hoá đã tham gia vào lịch sử Việt Nam từ lâu và thế kỉ XVIII là thủ phủ của chúa Nguyễn, là kinh đô của nhà Tây Sơn, nhất là sang thế kỷ XIX thành kinh đô nhà Nguyễn thì Huế dần xác lập lại vị trí là trung tâm văn hoá của nước ta.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
Về đầu trang