Giọng Huế
“… Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ/ Mà chiêng mà trống dậy hồn quê…”

Trong âm vang của giọng nói người ta nhận ra những bóng hình quen thuộc của quê nhà. Ảnh: Đăng Tuyên

Lâu lâu người bạn thân ở Sài Gòn lại điện về trò chuyện. Nói trên trời dưới biển cả tiếng đồng hồ, nghe ù cả tai thế mà không bao giờ bạn chủ động chào tạm biệt. Nhiều lần ngắc ngứ quá, hết chuyện “huyện chết” rồi mà bạn vẫn không chịu cúp máy đành hỏi thật: “Nì, bộ tính nói cả đêm chắc?”. Nghe vậy bạn cười to: “Thì mình nhớ giọng Huế quá nên mới “dây dưa” vậy, nói nữa đi, thèm nghe giọng Huế quá!”.

Giữa Sài Gòn đô hội, có đủ giọng nói mọi miền, sao bạn thèm nghe giọng Huế. Tiếng nói quê hương ấy, vì mưu sinh bạn đã rời xa quê lúc 18 tuổi, để bây giờ gần nửa đời người, những lúc vui buồn lại thèm nghe giọng Huế. Có nhiều lúc bạn điện cho tôi chỉ nói một câu “nói chi cũng được, chuyện mưa chuyện nắng chi của Huế cũng được, mình đang buồn đây, muốn nghe những lời thủ thỉ của giọng Huế để bình tâm trở lại trước cuộc sống xô bồ”. Giọng Huế có khả năng tuyệt vời ấy sao? Tôi phân vân tự hỏi nhưng tôi cũng tin bạn mình nói thật. Tôi nhớ có đọc đâu đó rằng khi phát âm, người miền Bắc thiên về giọng thấp, người miền Nam giọng cao còn người Huế thì giọng bình bình. Có lẽ vì tính chất bình bình ấy mà giọng Huế phù hợp với lối nói chuyện thủ thỉ, tâm tình. Chính cái âm trầm ấy tạo nên cảm xúc về sự chân thực cho người nghe.

Trong Từ điển tiếng Huế, bác sĩ Bùi Minh Đức đã chỉ ra có đến 32 giọng nói với nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau của người Việt, trong đó riêng phần gắn với Huế có đến 9 sắc thái, đó là giọng An Bằng, giọng các mệ, giọng hát Huế, giọng Huế, giọng Huế pha Sài Gòn, giọng Mỹ Lợi, giọng Phường Đúc, giọng Sịa, giọng trong Nội… Quả thật vô cùng phong phú. Trong phát âm, giọng Huế cũng có nặng, nhẹ khác nhau, những nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chia giọng Huế theo cơ cấu địa hình như giọng Dinh (ở thành phố-nhẹ); giọng Hạ Bạn (gần biển-nặng); giọng Thượng Bạn (cận sơn hoặc bán sơn địa); giọng Mỹ Lợi (phía nam Thừa Thiên Huế); giọng hàng huyện (ngoại ô) hay còn gọi giọng Huế làng. Chính vì thế, với nhiều người, giọng Huế không hoàn toàn dễ nghe, nhưng nếu nghe quen và thêm những phương ngữ đặc biệt ri, mô, tê, răng, rứa… thì nó như mưa dầm thấm đất, nghe rồi quen, rồi hiểu để khi đi xa thấy thương, thấy nhớ như Hà Huyền Chi đã “dậy hồn quê” giữa đất nước Mỹ xa xôi: “…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ/ Mà chiêng mà trống dậy hồn quê…”

Thế cho nên có những người con Huế xa quê mấy mươi năm, gần hết cả cuộc đời vẫn giữ nguyên giọng Huế. Đi khắp trời Tây, TS. Thái Kim Lan, bà Tôn Nữ Thị Ninh vẫn một giọng Huế dịu nhẹ và thanh tao; hay như hai người phụ nữ đẹp, phong cách rất Huế xưa như nghệ nhân ẩm thực Hồ Đắc Thiếu Anh, Hồ Hoàng Anh… hiện đang sống ở Sài Gòn, tất cả đều giữ giọng Huế. Trong mắt nhiều người ở các vùng miền khác, đôi khi chính giọng Huế cũng trở thành một tiêu chuẩn, rằng đã nói giọng Huế thì phải là người có lối hành xử, đi đứng, nói năng đẹp. Nghệ nhân ẩm thực Hồ Đắc Thiếu Anh chia sẻ “không chỉ tà áo dài thôi mô mà cái giọng Huế mình nói hàng ngày cũng nhắc nhở mình là người Huế phải giữ cốt cách, văn hóa Huế, kẻo người ta cười!”. Ngay cả bà cô của tôi, xa quê vào Biên Hòa gần 60 năm nay, vẫn giữ giọng Huế, người dân ở gần nhà bà vẫn quen gọi tên bà và thêm chữ Huế. Trả lời cho câu hỏi của tôi sao bà không nói giọng Nam cho dễ làm ăn, bà nói thật sâu sắc: “Hồi đầu mới vào Biên Hòa, cô cũng khó giao tiếp vì nói giọng Huế nhiều người không nghe được, họ còn bảo cô nói ngoại ngữ nữa. Nhưng cô không đổi giọng vì làm như rứa là có tội với quê hương, với Huế. Trong làm ăn cũng nhờ giữ giọng Huế mà người ta tin cô, họ còn nói với cô rằng: Tôi thấy bà nói giọng Huế nên tôi tin bà”. Thật là tuyệt diệu. Có những lúc chúng ta không ngờ kết quả tốt đẹp lại đến từ những điều tưởng chừng như không liên quan đến nhau: kinh doanh và giọng nói. Thế mà cũng có lần tôi đã e ngại không dám nói bằng chính giọng Huế của mình khi ở nơi xa lạ. Nghĩ lại bây giờ vẫn thấy buồn cười vì cái lần nói giọng giả ấy.

Ông bà ta xưa đã từng nói uống chung dòng nước nói chung một giọng, có lẽ thế nên khi bắt gặp giọng nói quê hương ở nơi xa lạ, nhiều người đã mừng rỡ chào hỏi như là đã thân nhau từ trước đó. Trong âm vang của giọng nói người ta nhận ra những bóng hình quen thuộc của quê nhà: núi, sông, con người, ẩm thực... Từ điểm chung giọng nói mà người ta dễ làm quen nhau ở nơi xa lạ, đất khách quê người. Giọng nói như là một bảo chứng về niềm tin. Nhiều lần ở sân bay Tân Sơn Nhất, khi ngồi giữa những người Huế cùng chuyến bay, nghe tiếng trò chuyện quanh mình, tôi thấy mình như vừa về đến nhà.

Tôi gọi điện thoại lại cho bạn: “Nì, nhớ giọng Huế thì tết ni về thăm hí. Về tha hồ mà nghe tiếng quê hương”. Bên kia đầu dây, giọng bạn tôi vang lên hào hứng “ Về chứ, về để nghe cho đã, nhớ Huế lắm rồi!”.

Xuân An
Báo Thừa Thiên Huế Online
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Vùng Huế với tên xưa Thuận Hoá đã tham gia vào lịch sử Việt Nam từ lâu và thế kỉ XVIII là thủ phủ của chúa Nguyễn, là kinh đô của nhà Tây Sơn, nhất là sang thế kỷ XIX thành kinh đô nhà Nguyễn thì Huế dần xác lập lại vị trí là trung tâm văn hoá của nước ta.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
Về đầu trang