Có chi mô nờ
Giờ đi đâu trên đất nước này cũng gặp người Huế. Và tất nhiên người Huế thì có tiếng Huế. Tôi người Huế nói tiếng Bắc và đang sống xa Huế, rất thích nghe câu “có chi mô nờ” người Huế nói tiếng Huế hay dùng cho mỗi kết thúc câu.
Có chi mô nờ
Các tin đã đưa
  • Nét đẹp riêng có của Huế. Ảnh: Hoàng Hải
    Giờ đi đâu trên đất nước này cũng gặp người Huế. Và tất nhiên người Huế thì có tiếng Huế. Tôi người Huế nói tiếng Bắc và đang sống xa Huế, rất thích nghe câu “có chi mô nờ” người Huế nói tiếng Huế hay dùng cho mỗi kết thúc câu.

  • “… Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ/ Mà chiêng mà trống dậy hồn quê…”

  • Ngôn ngữ của người Huế rất phong phú, ngoài những từ đặc biệt của địa phương như mô, tê,răng, rứa...thì trong lời ăn tiếng nói của người Huế còn dùng nhiều ca dao, tục ngữ để thể hiện ý nghĩ thêm phần hoa mỹ và trơn tru. Chính điều này đã làm cho ngôn từ Huế sống động cũng như thăng hoa tâm hồn con người xứ Thần Kinh này.

  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người đất Thần Kinh.

  • Không lâu sau khi ở tận bên trời Tây bác sĩ Bùi Minh Đức xuất bản tập sách “Từ điển xứ Huế” xôn xao dư luận, thì ngay tại quê hương, nhà nghiên cứu Triều Nguyên cũng kịp trình làng công trình nghiên cứu “Từ điển tiếng Việt địa phương vùng Huế” (Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2012).

  • Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.

  • "Trong cách giao tiếp, ứng xử giữa con người với con người trong đời thường được hun đúc, được chắt lọc thành tục ngữ, ca dao, ca dân gian xứ Huế, thấy người đất thần kinh ít nói đến chữ “yêu” khi bộc lộ tình cảm giữa nam và nữ. Chữ “yêu” nhiều chỗ được thay bằng chữ “thương” rất ý nhị, dịu dàng và cũng không kém phần sâu sắc, diết da"

  • Tiếng hát đâu mà nghe nhớ
    Mái nhì man mác nước sông Hương.
    (Tố Hữu)


 

Bài đọc nhiều nhất

  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Khi biên soạn bộ điển lệ nổi tiếng của triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, các sử quan của triều đình đã dành quyển 78 và quyển 242 để bàn về việc ăn mặc của các bậc đế, hậu, hoàng tử, công chúa, quan lại… triều Nguyễn, từ trang phục dùng trong các dịp triều lễ, khánh tiết, tết nhứt, cho đến thường phục, kể cả nội y, “phụ kiện”...
  • Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25/05/1791 – 20/01/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840.
Về đầu trang