Tin tức

Đức “hay nói” của Nguyễn Mậu và bản lĩnh “dám nghe” của Lê Thánh Tông
Cập nhật:17/04/2021 11:29:24 SA
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, vua Lê Thánh Tông của nhà hậu Lê nổi lên như một vị vua anh minh và có nhiều công nghiệp thuộc hàng bậc nhất.

Lăng mộ bà Ngô Thị Ngọc Dao, người đã sinh thành, dạy dỗ vua Lê Thánh Tông

Ông nổi tiếng với việc “chiêu tuyết” minh oan cho Nguyễn Trãi 20 năm sau đại án “Lệ Chi Viên” bằng việc truy tặng Nguyễn Trãi tước Tán Trù Bá; ban cho người con may mắn thoát họa tru di tam tộc của Nguyễn Trãi là Anh Vũ chức huyện quan; ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn và tạc bia cho Nguyễn Trãi với câu thơ: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê).

Thời Lê Thánh Tông trị vì còn vang danh với bộ luật Hồng Đức mà hậu thế đã đánh giá: “Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới”. Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông còn lưu danh sử xanh với tư cách là một nhà thơ và phê bình văn học. Ông là người sáng lập Hội Tao đàn và xưng là Tao đàn nguyên soái. Hội Tao đàn ra đời đánh dấu bước phát triển cao về văn chương đương thời.

Đánh giá về vua Lê Thánh Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “(Vua) là con thứ 4 của Thái Tôn, ở ngôi 38 năm, thọ 56 tuổi, chôn ở Chiêu lăng. Vua sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dù Vũ đế nhà Hán, Thái Tôn nhà Đường cũng không hơn được…”.

Có một câu chuyện về ông vua này được sử ký ghi lại rất đáng suy ngẫm. Xưa nay, phàm làm người thì ai cũng thích nghe lời mơn trớn đường mật; còn lời góp ý, nói thẳng thì rất hiếm có người thành ý tiếp thu, tiêu hóa; người chức càng cao, quyền càng to, tiền càng nhiều thì lại càng khó tiếp thu hơn nữa. “Trung ngôn nghịch nhĩ” là ý nói điều này.

Vậy nhưng Lê Thánh Tông thân là “thiên tử” lại không là người như vậy. Vua từng dụ cho các quan rằng: “Nay bọn Lê Cảnh Huy, Nguyễn Như Đổ, Phạm Du, hoặc lời bàn luận ở triều đình, hoặc việc chính trị nên hay hỏng, chỉ a dua lấy lòng, nín lặng không nói, dù có lỗi nhỏ thì khép vào pháp luật cũng là đáng. Còn như bọn Nguyễn Mậu, Nguyễn Vĩnh Tích, Nguyễn Xác, Nguyễn Thiện thì biết lo vua, yêu nước, tùy việc nói hết lời, dù có lầm lỗi mà được khoan thứ cũng phải. Mới rồi Nguyễn Mậu nói việc không đúng mà không buộc vào tội, đó là trẫm báo đền cái đức hay nói của Nguyễn Mậu vậy”.

Đoạn sử ký trên cho thấy, tuy ở ngôi cao tột đỉnh, nhưng Lê Thánh Tông lại rất ghét những kẻ a dua nịnh hót hoặc thủ phận cầu an, đúng sai đều không dám bày tỏ. Ngược lại, vua lại luôn mong cầu được nghe lời nói thẳng, khuyến khích những kẻ bề tôi mạnh dạn bày tỏ chính kiến, không ngại nói sai. Như trường hợp Nguyễn Mậu “nói việc không đúng” nhưng vẫn không bị vua bắt tội, đó là vì - như chính nhà vua tự nhận - rằng ông muốn bày tỏ lòng “báo đền cái đức hay nói của Nguyễn Mậu”.

Biết lắng nghe để suy xét, đúng thì theo để thi triển cho ích quốc lợi dân, sai thì cẩn thận mà tránh để khỏi hại nhà hại nước. Chính cái bản lĩnh biết lắng nghe đó đã giúp phần để Lê Thánh Tông trở thành một đấng minh quân. Trị vì và đưa Đại Việt phát triển rực rỡ ở mọi phương diện, trở thành một cường quốc lớn mạnh trong khu vực Đông Nam Á, “khiến nền quân chủ Việt Nam đạt đến đỉnh cao hoàng kim nhất của nó, trước và sau không có thời vua nào của Việt Nam đạt được” như giới sử gia sau này đã đánh giá.

Bài, ảnh: Huy Khánh
Báo Thừa Thiên Huế
 Bản in]