Lăng Sọ - Từ huyền thoại một di tích
Lăng Cơ Thánh (tục danh Lăng Sọ) không phải là lăng mộ của một vị chúa Nguyễn, cũng không phải là lăng tẩm của một vị vua triều Nguyễn nhưng lại đặc biệt quan trọng với triều đại này vì đây là lăng mộ của người sinh ra vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn. Đây cũng là khu lăng mộ gắn liền với nhiều huyền thoại lịch sử, và ngay cả tên gọi Lăng Sọ cũng đã gợi nên bao tò mò với nhiều người. Tuy nhiên, đây lại là một di tích không nhiều người biết đến…

Thực ra tên gọi lăng Sọ chỉ là cái tên thông dụng một thời trong dân gian vùng Huế của lăng Cơ Thánh, lăng mộ của thân phụ vua Gia Long. Nhiều người Huế cũng quen gọi khu lăng mộ này bằng một tên khác: Lăng Cao Hoàng; còn trong một số tác phẩm ngự chế của các hoàng đế triều Nguyễn thì lăng Cơ Thánh còn được gọi là Kiều Sơn, Châu Khưu...

Chủ nhân của lăng Sọ, ông Nguyễn Phúc Luân(1), sau được hoàng đế Gia Long truy tôn là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, là người khi tại thế chưa có danh vị chính thức, đến lúc qua đời rồi vẫn gặp lắm nổi truân chuyên. Bản thân lăng mộ của ông cũng là một trong những lăng mộ gắn với nhiều huyền thoại. 

Về quy thức kiến trúc, lăng Cơ Thánh là bước chuyển tiếp giữa lăng mộ các chúa Nguyễn và lăng tẩm các vị hoàng đế triều Nguyễn. Vì vậy, đây là khu lăng mộ mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc.

1.Từ những huyền thoại 

Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nguyễn Phúc Luân là con trai thứ hai của Thế Tông Hiếu Võ hoàng đế Nguyễn Phúc Khoát và hoàng hậu Trương Thị Dung. Ông sinh ngày 29 tháng 4 năm Quý sửu (11 tháng 6 năm 1733). Sau khi Võ vương Nguyễn Phúc Khoát băng hà, vì Đông cung thế tử là Nguyễn Phúc Hạo không may yểu mệnh đã sớm qua đời, nên đã để lại di chiếu truyền ngôi cho Nguyễn Phúc Luân. Lẽ ra, ông chính là vị chúa Nguyễn đời thứ 9. Nhưng bấy giờ, đại thần Trương Phúc Loan chuyên quyền bạo ngược, vì muốn thao túng cả triều đình, họ Trương đã mật mưu với thái giám Chữ Đức và Chưởng dinh Nguyễn Hữu Thống sửa đổi di chiếu, đưa hoàng tử thứ 16 của chúa Nguyễn Phúc Khóat là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên kế nghiệp. Ý Đức Hầu Trương Văn Hạnh và quan Thị Giảng Lê Cao Kỷ là hai vị sư phó của Nguyễn Phúc Luân đều bị Trương Phúc Loan sát hại. Bản thân Nguyễn Phúc Luân thì bị tống giam vào ngục. Sống trong ngục thất với nỗi uất ức căm hận, không bao lâu sau ông lâm bạo bệnh, sau về lại phủ đệ và qua đời ngày 10 tháng 9 năm Ất Dậu, tức ngày 24 tháng 10 năm 1765, hưởng dương được 33 tuổi.

Huyền thoại thứ nhất

Truyện này được chép trong sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn, tập Kinh sư; câu chuyện thật ly kỳ...

Năm Ất Dậu, Hưng Tổ Hiếu Khang hoàng đế băng hà, quan tài của ông được người nhà để tạm tại nhà riêng vì chưa tìm được cuộc đất tốt để an táng (bấy giờ phủ của ông ở tại làng Dương Xuân). Đêm nọ, có một vị sư già đến hỏi rằng: “Đã tìm được đất chôn chưa?” . Người nhà của Hưng Tổ bảo là chưa. Người sư già bí ẩn kia bèn chỉ lên vùng hõm vào của núi Cư Chánh mà bảo với người nhà của Hưng Tổ rằng: “Đấy là đât an táng đấy, tôi đã cắm cây, sáng mai cứ đến đấy nhận phương hướng mà an táng”. Nói xong, người sư già bỏ đi mất. Sáng sớm hôm sau, người nhà của Hưng Tổ theo lời người sư già đi tìm, quả nhiên tìm được chỗ nhà sư đã cắm cọc làm dấu. Họ cứ y lời nhà sư, an táng thi hài của Hưng Tổ vào đó. Sau, họ có ý đi tìm nhà sư, song không ai biết nhà sư đã đi về đâu.

Mùa đông năm Canh tuất (1790), nhà Tây Sơn khi chiếm được Thuận Hóa, tương truyền vì quan niệm về long mạch của một triều đại cần phải phá bỏ để triệt nguồn phát vương đế của các chúa Nguyễn nên Tây Sơn đã ra lệnh quật phá toàn bộ lăng mộ của họ. Số phận của lăng Cơ Thánh, cũng không tránh khỏi hung họa này.

Cũng theo huyền thoại trên, triều Tây Sơn đã sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đem quan tài đào được trong lăng Cơ Thánh ném xuống vực sông trước mặt lăng. Lạ thay, ngay lúc bấy giờ, Nguyễn Văn Ngũ được tin nhà mình bị cháy vội vàng về cứu hỏa. Một người dân xã Cư Chánh là Nguyễn Ngọc Huyên nhân cơ hội đó, cùng với con trai lặn xuống sông mang được quan tài của Nguyễn Phúc Luân giấu đi. Chỗ Tây Sơn ném quan tài xuống sông thì về sau nổi lên thành gò cát. Mùa hè năm Tân Dậu (1801), vua Gia Long khôi phục được Kinh thành cũ, Nguyễn Ngọc Huyên mang tất cả câu chuyện trên kể lại. Vua Gia Long lập tức đưa hài cốt thân phụ về an táng tại chỗ cũ và xây cất lại như xưa.

Đến năm 1807, vua Gia Long bắt đầu cho trùng kiến lăng mộ của các vị tiên tổ, lăng mộ của thân phụ ông được ưu tiên trùng tu và được dâng tên hiệu là lăng Cơ Thánh, núi Cư Chánh thì được đổi tên là An Nghiệp Sơn.

lăng cơ thánh

Huyền thoại thứ hai

Đây là câu chuyện về tên gọi Lăng Sọ, một truyền thuyết dân gian không kém phần thú vị. Chuyện kể rằng, sau khi Tây Sơn khai quật hài cốt của Nguyễn Phúc Luân ném xuống sông, một hôm có người thợ chài tên Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, kéo lên được một cái sọ. Ông ta hoảng sợ ném sọ đi, nhưng lần thứ hai kéo lưới lại thấy cái sọ ấy nằm trong lưới. Nguyễn Ngọc Huyên thấy lạ, bèn khấn vái với trời đất: “Nếu quả là sọ của một vị anh linh, thì xin hiển linh để tôi biết“. Qua lần thứ ba kéo lưới, chiếc sọ kia lại vẫn nằm trong lưới. Huyên kinh sợ nhưng nghĩ là hồn thiêng của một vị nào đang oan ức, bèn kiếm nơi mai táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi đi tìm hài cốt của thân phụ, nghe người làng Cư Chánh thuật lại câu chuyện trên, ngài bèn cho đòi Nguyễn Ngọc Huyên chỉ chỗ an táng. Khi đào được sọ lên, vua bèn thử bằng cách trích máu ở tay mình nhỏ vào chiếc sọ. Chiếc sọ bèn hút ngay lấy những giọt máu như đất khô hút nước. Người xưa cho rằng, cách thử này cho biết mối liên hệ của hai người như vậy là có tình cốt nhục. Nhà vua bèn đem chiếc sọ chôn lại chỗ cũ và xây cất tử tế. Từ chuyện này, cái tên Lăng Sọ được truyền tụng trong dân gian một cách rộng rãi, và mãi sau này nhiều người vẫn dùng tên gọi này để chỉ lăng Cơ Thánh.

Về ý nghĩa tên gọi lăng Cơ Thánh, thì “Cơ” có nghĩa là nền tảng, là cơ sở; “Thánh” là tiếng tôn xưng dùng cho các bậc đế vương tài năng đức độ. Vì ông Nguyễn Phúc Luân là người đã sinh ra ngài Nguyễn Phúc Ánh, vị vua sáng lập nên triều Nguyễn, nên lăng mộ của ông mới được đặt tên là “Cơ Thánh”.

Cái tên “Kiều Sơn” được dùng nhiều trong các tác phẩm ngự chế của các vị vua triều Nguyễn thì xuất phát từ điển tích xưa. Nguyên lăng của vua Hoàng Đế (một trong ngũ đế của Trung Hoa) được gọi là “Kiều Sơn” hoặc “Kiều Lăng”. Các triều đại về sau, dần dần hình thành một cách gọi tên đặc biệt: Lăng của người sinh ra vị vua đầu triều của một triều đại thì được gọi là Kiều Sơn hay Kiều Lăng. Các vị vua triều Nguyễn cũng sử dụng điển tích này và vận dụng trong cách chơi chữ ở các tác phẩm ngự chế của mình,  tên gọi Kiều Sơn để chỉ lăng Cơ Thánh cũng xuất phát từ đó.

Còn “Châu Khưu” được dùng trong các tác phẩm ngự chế thì mang ý nghĩa về địa lý. Châu là ngọc; Khưu có nghĩa là gò đất; tức ví thế đất của lăng như cái gò ngọc. Đây là một cách tôn xưng, còn trên thực tế lăng Cơ Thánh có thế đất, theo thuyết địa lý cổ là thuộc kiểu “đao kiếm”, kiểu đất mà con cháu sẽ phát về nghiệp võ. Không biết điều đó có đúng không nhưng cái tên “đao kiếm” dường như đã gợi nên hình ảnh của những can qua bất tuyệt; và không biết có phải vì thế mà số phận ngôi lăng này cũng đã trải qua mấy bận truân chuyên?!

2- Đến lịch sử xây dựng và quy thức kiến trúc

Lăng Cơ Thánh tọa lạc ở bên hữu ngạn dòng Hương Giang, cách thành phố Huế chừng 8km về phía nam- tây nam. Dưới triều Nguyễn, lăng Cơ Thánh thuộc địa phận xã Cư Chánh, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Ngày nay, khu vực này thuộc địa phận xã Cư Chánh, Thành phố Huế.

Lăng nằm sát bờ sông, phía bờ đối diện là các lăng Vĩnh Cơ, Trường Diễn và Trường Hưng(2); hơi chếch xuống dưới là điện Hòn Chén; ở bên phải, cách một dãy núi đất là Xương Lăng (lăng vua Thiệu Trị); bao bọc phía đằng sau lăng đều có núi che chắn; địa thế không thật rộng rãi nhưng rất hữu tình. Nhìn chung, lăng Cơ Thánh nằm ngay trong vùng lăng tẩm ở phía tây, tây nam Kinh thành, dọc theo hai bờ sông Hương mà triều Nguyễn đã sớm chọn lựa, quy hoạch.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội Các triều Nguyễn biên soạn, chép về ngôi lăng mộ này như sau: 

“Lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế gọi là lăng Cơ Thánh, ở núi Hưng Nghiệp phủ Thừa Thiên. Bảo thành cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng, xây gạch, trước mở một cửa, còn đằng trước thì làm bái đình hai cấp, tả hữu có lan can, phía đông làm điện Canh Y, phía tây làm Thần Khố, đều ba gian”.

Lăng Cơ Thánh nếu xét về mặt quy mô, tầm vóc thì không thật hoành tráng và cũng không có nhiều hình ảnh, họa tiết trang trí nghệ thuật, song đây là một ngôi lăng mộ mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa đậm nét. Về mặt kiến trúc, mỹ thuật cũng rất đáng lưu tâm vì đây là một trong những lăng tẩm được xây dựng sớm nhất của triều Nguyễn; nó là cơ sở, là sự chuẩn bị cho sự ra đời của những ngôi lăng tẩm đồ sộ của các vua Nguyễn sau đó. Bản thân Triều Nguyễn cũng xem đây là một nơi hội tụ long mạch khiến cho triều đại có thể khôi phục và trường tồn (vì thế mới đổi gọi tên vùng núi lăng toạ lạc là Hưng Nghiệp Sơn(3)

Như trên đã mô tả, lăng Cơ Thánh tọa lạc trên một khu đất tương đối bằng phẳng rộng chừng 10.000m2, riêng phần nội lăng chiếm khoảng 2000m2. Lăng dựa lưng vào một dãy núi không cao lắm, mặt hướng ra bờ sông Hương, hai bên trái phải còn những khoảng đất rộng; trước mặt là bãi cát do sông Hương bồi đắp (Sử triều Nguyễn xem đây là “gò cát” đã nổi lên để giữ lại quan tài ông Nguyễn Phúc Luân sau khi bị quân Tây Sơn ném xuống sông). Xa xa phía trước, bên kia dòng Hương trong xanh, là một dãy núi hình vòng cung chạy dọc từ Tây sang Đông làm bình phong che chắn cho toàn khu lăng. Phía sau dãy núi thấp làm hậu chẩm cho Lăng còn có những dãy núi trùng trùng điệp điệp như những trận đồ gươm giáo ngày xưa. Có lẽ vì dãy núi hình vòng cung phía trước và trùng điệp những ngọn núi phía sau mà các nhà địa lý thời Nguyễn cho rằng cuộc đất này có thế “Đao kiếm”

Trên mặt tổng thể, lăng Cơ Thánh không có la thành xây kín bao bọc, nhưng trước kia triều Nguyễn cho đã xây 20 trụ gạch làm giới cấm và quy định khu vực khoanh vùng bảo vệ của ngôi lăng này là 737 tầm (tức khoảng 2.500m). Lăng gồm một bình phong dài che chắn đằng trước và một khu lăng mộ riêng biệt phía sau. Sân tế (Bái đình) chia thành hai bậc dẫn lên khu Bửu thành. Bửu thành là một vòng tường xây gạch khá đồ sộ có cửa vòm trổ ở mặt trước. Bên trong Bửu thành là Huyền cung có phần Bửu đỉnh (dân gian thường gọi là nấm mộ) xây nổi 4 tầng hình chữ nhật chồng lên nhau. Bên phải Lăng (nhìn từ trong ra) có một tòa miếu thổ thần sau biến tướng thành nơi thờ Mẫu Thoải (tức Mẫu Thuỷ). Cách Lăng chừng 500m có một ngôi miếu nhỏ thờ Nguyễn Ngọc Huyên, người đã cất giấu hài cốt của ông Nguyễn Phúc Luân, sau được triều Nguyễn phong tước An Ninh Bá. Đây cũng có thể xem là di tích gắn liền với lăng Cơ Thánh.

Căn cứ vào cách bố trí các công trình như trên có thể mô tả khu lăng từ ngoài vào trong như sau:

- Bình phong trước:

Đây là bức bình phong che chắn cho tòan bộ khu vực lăng mộ, nằm cạnh quốc lộ 49 chạy ven sông Hương. Bình phong xây xi măng có chiều dài 45,5m, chỗ cao nhất là 2,5m, tạo hình đăng đối ở hai bên. Phần chính giữa nổi bật lên, dài 11m, là một đọan tường cao nổi bật có tạo hình hai mái. Hai mái được đúc giả, tạo hình ngói ống âm dương. Phía trên sống bình phong, ở giữa tạo hình tam sơn cách điệu, hai bên là hai hình con giao cách điệu. Ở đầu của những viên ngói ống giả này, có chạm hình chữ “thọ”. Đoạn giữa của bình phong, chiều cao đo được 2,50m, dày 0,47m, phía dưới của bức bình phong người ta tạo hình một bệ chân quỳ để làm phần đế, cao 0,35m. Hai cánh hai bên của bình phong giữa này có chiều dài 17,30m cho mỗi cánh, hình dáng, kích thước hòan tòan đăng đối. Mỗi cánh gà này tạo nên bởi hai đọan tường có chiều dài tương đương, dài 6m, cùng với một lối vào ở ngoài cùng, rộng 2,80m. Hai lối vào ở ngoài cùng hai bên chính là lối vào chính của toàn khu lăng mộ. 

Có thể nói, bức bình phong xây rất đăng đối và hoàn toàn tương xứng với tổng thể lăng mộ. Song điều đáng nói ở đây là vật liệu xây bình phong lại bằng xi măng. Chưa tìm ra thời điểm xây dựng chính xác của bức bình phong này nhưng có thể đoán định trong khoảng đầu thế kỷ XX. Có thể vì khi xây dựng con đường chạy ngang qua trước lăng (quốc lộ 49 hiện nay), cuộc đất “Đao kiếm” này xét về quan niệm phong thủy địa lý, đã bị ảnh hưởng rất lớn nên triều đình hoặc con cháu nhà Nguyễn đã tạo ra bức bình phong trên để giữ lại địa thế cho cuộc đất.

- Sân Bái đình

Được chia thành hai tầng, tầng dưới trước đây chỉ có cỏ mọc che lấp, gần đây đã được trùng tu (sau đợt đào nghiên cứu khảo cổ học năm 2018) lát mặt sân bằng gạch vồ và trồng cây xanh, đặt chậu hoa bụi lớn. Tầng sân trên cách tầng sân dưới bằng 7 bậc cấp, kích thước 18,90 x 21,80m, được lát hoàn toàn bằng gạch Bát Tràng, có hệ thống nữ tường bao bọc. Ở giữa sân Bái đình này, người ta dùng hai hàng gạch vồ đặt nghiêng phân giới hạn rạch ròi để tạo nên đường Thần đạo chạy từ trước ra sau của sân. Đường Thần đạo được tạo ra có chiều rộng 3,15m, ứng với 9 viên gạch Bát Tràng. Phía bên phải đường Thần đạo, có một cái lư dùng đốt các lọai giấy tiền vàng mã, xây bằng gạch vồ cao 0,75m, dài 0,88m, rộng 0,62m.

Nữ tường bao bọc xunh quanh sân Bái đình cũng được xây bằng gạch vồ, mũ tường được ốp tròn. Nữ tường bao bọc hai bên trái phải có bổ hai trụ đứng ở giữa để ngăn nữ tường thành ba phần đồng thời nhằm gia cố thêm cho hệ thống nữ tường này. Bề mặt nữ tường được đắp nổi những đường gạch thẳng tắp để tạo ra những ô hộc vuông vắn song không thấy trang trí gì. Mặt trước nữ tường ngăn ở hai bên chỉ chừa lại đọan có bậc cấp đi lên.

Bậc cấp đi lên sân Bái đình được chia thành 3 lối đi. Thực chất đây là một lối thẳng thống nhất từ trái sang phải làm bằng những viên đá gan gà vuông vắn, rộng đến 9,50m. Những viên đá gan gà này vuông thành sắc cạnh và tương đương nhau, kích thước 0,60m x 0,50m x 0,20m. Sau khi hoàn tất lối đi này, người ta đắp thêm hai bờ dốc ngăn ở giữa để tạo nên ba lối đi với kích thước lần lượt là 2,85m; 3,85m; 2,85m.

- Cổng chính và Bửu thành

+ Cổng chính:

Cổng chính để đi vào Huyền cung của lăng Cơ Thánh là một loại cổng đơn vòm cuốn, trang trí đơn giản song rất vững chãi. Vòm cuốn của cổng chia thành hai phần trước và sau. Phần trước chỉ dày 0,30m và cao 2,20m: phần sau dày đến 1,50m và cao hơn phần trước đến 80cm. Từ sự chênh lệch này, người ta dễ dàng tạo ra một cánh cửa bằng sắt vững chắc. Do cấu tạo đặc biệt của hai vòm chênh lệch nhau, hai cánh cửa tuy hình chữ nhật, song khi chúng đóng lại nhìn từ ngoài vào, chúng lại có hình vòm trông rất trang nghiêm. Hai cánh cửa sắt đều có khung sắt viền quanh rất chắc chắn, kích thước của mỗi cánh là 2,30m x 1,05m. Bờ tự do của cánh cửa hoàn toàn vuông vắn, còn bờ cố định có cấu tạo hai trụ trên và dưới. Trụ dưới có cối cửa ở dưới; còn trụ trên gắn vào cối cửa đều bằng đá Thanh gắn chặt vào tường. Do kết cấu như vậy, tuy nặng nề song hai cánh cửa vẫn đóng ra khép vào rất dễ dàng.

Lối vào tuy hình vòm, song thành ngoài cổng lại vuông thành sắc cạnh, những đường đắp nổi bên trên tạo ra những ô hộc trông rất hài hòa.

+ Bửu thành:

Toàn bộ Bửu thành được xây bằng đá gan gà và vôi vữa truyền thống. Nếu đo từ mặt ngoài, Bửu thành cao đến 3,15m (không kể mũ thành); Nếu đo từ mặt trong thì Bửu thành cao 2,50m. Sở dĩ có sự chênh lệch này, vì từ sân Bái đình muốn lên sân trong của Bửu thành phải đi qua một hệ thống bậc cấp gồm 3 bậc cũng được làm bằng chất liệu như bậc cấp đi lên Bái đình. Bửu thành được xây dựng mộc mạc không tô trét, hình dạng các viên đá gan gà nổi rõ rất dễ nhận thấy. Chính sự thô sơ này tạo cho tòan bộ khu lăng một vẻ trầm mặc thanh thoát, vừa cổ kính vừa uy nghi.

Thực ra, chiều cao 3,15m đo được từ sân Bái đình chưa phải là chiều cao tuyệt đối của Bửu thành. Nếu từ ngoài khuôn viên của lăng mộ này, chúng ta sẽ thấy được toàn bộ 4 bức tường thành cao 3,15m kia còn được đặt lên trên một khối móng bằng đá cao lên quá mặt đất 1,15m (chưa kể phần chìm dưới mặt đất).

Toàn bộ Bửu thành là một hình chữ nhật đăng đối với chiều rộng đo được 18,7m và chiều dài là 23,6m, ứng với mặt trước và mặt sau của khu lăng mộ. Chiều dài mặt trước chứa đựng chiếc cổng chính vừa mô tả ở phần trên, riêng chiều dài mặt sau, người ta lại xây cao hẳn lên tạo thành một bức bình phong che chắn cuối cùng. Chiều dài của bức bình phong này ứng với chiều dài của La thành, nghĩa là cũng đo được 23,6m. Trên tòan bức bình phong này không hề có dấu vết của chạm khắc hay một loại trang trí mỹ thuật nào khác.

- Bình phong trước của Huyền cung

Qua khỏi cổng vòm, tức cổng chính của khu lăng mộ, là một bức bình phong rất đặc sắc về mặt mỹ thuật, có thể xem đây là một thành tựu đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình dạng phù điêu bằng vôi vữa truyền thống của các nghệ nhân Việt Nam vào giai đoạn đầu thế kỷ XIX. Bức bình phong được xây dựng theo hình cuốn thư đặt trên một đế làm theo kiểu chân quỳ. Toàn bộ bức bình phong rộng 3,26m, cao 2,15m (kể cả đế). Riêng phần đế hình bệ chân quỳ có kích thước dài 3,48m x rộng 0,65m x cao 0,49m. Bề rộng của đế lớn hơn chiều dài của bức bình phong (0,42m) để tạo một thế đứng vững chãi, cũng như chiều dài của bệ (3,48m) lớn hơn chiều dài của bức bình phong trên (3,26m) để tạo thế đăng đối và vững chắc.

Mặt trước bình phong đắp nổi hình rồng cuộn ẩn trong mây, mặt rồng nằm ngay chính giữa bức bình phong: hai vai và ngực rồng trong tư thế ưỡn ra, xòe năm móng vuốt sắc nhọn trông rất dữ tợn. Lối tạo hình của các nghệ nhân thoạt nhìn có vẻ như đơn giản, song lại tạo nên vẻ sinh động kỳ lạ, khiến người xem có cảm giác kính cẩn trước nơi thiêng liêng.

Mặt sau bức bình phong là một tuyệt tác về mặt nghệ thuật tạo hình: bức phù điêu đắp nổi hình “Tam lân hí cầu”. Tuy không được chạm khảm bằng các loại sành sứ hay đồ trang trí khác, song bức phù điêu hình ba con lân này thường khiến cho người xem ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trước sự sống động của nó. Ba con lân với những đặc trưng điển hình của lân thời Nguyễn đang vờn một quả cầu trên nền những cụm mây xoắn. Mỗi con có một dáng vẻ riêng và đều cực kỳ sinh động. Tuy đây là bức phù điêu “Tam lân hí cầu”, song có thể do con lân ở giữa to lớn hơn nên cũng có người cho đây là bức “Lân mẫu xuất lân nhi” với những hàm ý sâu xa hơn. Họ cho rằng, bởi đây là Lăng mộ của người thân sinh ra vua Gia Long, nên những con lân trên phải nằm trong mạch chủ đề “ Lân mẫu xuất lân nhi”, thì mới đúng ý nghĩa vừa ca tụng đạo hạnh của người đã khuất vừa ca tụng tài năng của ông vua đã thống nhất được sơn hà.

- Huyền cung, bình phong và hương án phía sau

+Huyền cung và Bửu đỉnh:

Huyền cung với phần Bửu đỉnh được xây dựng khá đơn giản, gồm bốn tầng; mỗi tầng là một khối chữ nhật lép (chiều cao rất nhỏ so với chiều rộng và chiều dài), tất cả nằm chồng lên nhau. Tầng cuối cùng có diện tích đáy lớn nhất, cả tầng trên nhỏ dần dần và tầng trên cùng có diện tích đáy nhỏ nhất. Tầng dưới cùng, ngoài việc chứa đựng cả ba tầng trên còn là nơi thiết hương án và bức bình phong phía sau Bửu đỉnh. Khối chữ nhật lép dưới cùng (có thể gọi tạm là tầng Bửu đỉnh thứ nhất và gọi dần lên cho các tầng trên) có chiều cao lại nhỏ nhất, trong khi các tầng trên lại tăng dần về kích thước chiều cao (tầng trên cùng có chiều cao lớn nhất). Đây cũng là điểm khá đặc biệt trong cấu trúc tầng ở các công trình kiến trúc thuộc quần thể di tích Huế. Kích thước của những khối chữ nhật trên như sau: 

- Tầng thứ nhất: dài 8,8m; rộng 5,2m; cao 0,1m

- Tầng thứ hai: dài 3,45m; rộng 3,1m; cao 0,12m.

- Tầng thứ ba: dài 2,86m; rộng 2,5m; cao 0,28m

- Tầng trên cùng: dài 2,20m; rộng 1,96m; cao 0,34m

Lối sắp xếp những hình hộp chữ nhật trong kiến trúc với diện tích đáy nhỏ dần lên trên trong khi chiều cao lại nhỏ dần từ trên xuống dưới là một nét rất đặc biệt trong kiến trúc của khu lăng mộ này. Chính điều này lại tạo cho phần mộ có một nét độc đáo riêng biệt so với các khu lăng tẩm của vua Nguyễn về sau nhưng lại khá gần gũi với các khu lăng của các chúa Nguyễn. Điều này càng chứng tỏ, lăng Cơ Thánh chính là bước chuyển tiếp của phong cách kiến trúc lăng mộ Nguyễn, từ thời các chúa qua thời kỳ các vua.

+Hương án và bức bình phong phía sau:

Nằm trên tầng mộ thứ nhất, ngoài ba tầng mộ trên còn có một hương án và một bức bình phong sau nữa dính liền nhau. Hương án được làm theo lối đế chân quỳ, chiều dài đo được 3,32m, rộng 1, 38m, cao 0,67m. Đây là nơi để bát nhang và những đồ thờ cúng ngày trước song nay đã không còn gì. Hương án không có dấu vết trang trí nào của ngày xưa, song vị trí và kích thước đặc biệt đã khiến nó rất hài hòa với tổng thể cảnh quan của cả khu lăng mộ.

Bình phong sau nằm sát ngay hương án vừa mô tả, cũng được tạo hình theo lối cuốn thư đặt trên bệ chân quỳ. Toàn bộ bức bình phong dài 3,22m, cao 2,13m, dày 0,92m. Mặt trước bình phong trang trí hình long vân đắp nổi, hình ảnh tương tự như bức bình phong nằm phía trước, song lại không còn nguyên vẹn và sắc sảo như bức bình phong ở phía trước. Bức bình phong được làm bằng gạch vồ và vôi vữa truyền thống, phù điêu được tạo hình trên đó cũng được làm bằng những chất liệu giản đơn như trên, nhưng những nghệ nhân tài hoa xưa đã tạo ra sự sinh động tuyệt vời cho những tác phẩm này.

Như đã miêu tả, toàn khu lăng mộ của chúa Nguyễn Phúc Luân được xây dựng không mấy cầu kỳ, quy mô cũng khá khiêm tốn, song lại thành công lớn về nhiều mặt do tạo được sự hài hòa trong kiến trúc và tỷ lệ đối xứng ở các bộ phận của công trình.

-Các công trình phụ thuộc:

+Miếu Thổ thần:

Nằm bên cạnh lăng Cơ Thánh, cách khoảng 25m phía bên phải là một ngôi miếu nhỏ được xây bằng gạch thẻ và xi măng. Nguyên xưa đây là miếu Thổ thần, nhưng qua xem xét tổng thể cũng như chi tiết cùng chất liệu cấu trúc, ta có thể khẳng định ngôi miếu mới được xây dựng lại chừng vài chục năm trước.

Ngôi miếu có kích thước 4m x 2,5m, được trang trí rất đơn sơ, ngoài ba chữ Hán “ Hương Quảng Cung” được viết thẳng vào hoành phi phía trước thì chẳng có trang trí nào đáng kể. Đây là một ngôi nhà nhỏ gồm hai mái thiết kế theo chiều dọc trước sau. Không gian ngôi miếu được chia hai phần, ngăn cách nhau bởi một bệ xi măng với hai cửa gỗ bên trên. Trong cửa gỗ là không gian thờ cúng, song vẻn vẹn chỉ có một bát nhang và hình ảnh chim phụng được vẽ trên tường chính giữa. Từ đây có thể suy ra, ngôi miếu này không còn giữ được cấu trúc và chức năng vốn có của mình, mà đã trở thành nơi thờ mẫu Thoải của những người chài lưới quanh vùng.

+ Điện Canh Y và Thần Khố: 

Cả hai công trình này đến nay đã hoàn toàn không còn để lại dấu vết gì trên thực địa, dù trong sử sách triều Nguyễn chúng đều được mô tả là những ngôi nhà 3 gian.

*
Như vậy, xét về cấu trúc có thể chia lăng Cơ Thánh làm 3 phần: Khu vực phụ thuộc bên ngoài gồm điện Canh Y, Thần Khố và miếu Thổ thần; khu vực Bái Đình và khu Bửu thành, Huyền cung. Cách cấu trúc với 3 bộ phận như trên về hình thức có vẻ tương tự cách cấu trúc các khu lăng tẩm triều Nguyễn, nhưng trên thực tế lại gần gũi hơn với phong cách lăng mộ thời chúa Nguyễn, dù lăng mộ các chúa chỉ gồm 2 bộ phận là Bái đình và khu Bửu thành, Huyền cung. Khảo sát lăng mộ các chúa Nguyễn, ta có thể nhận thấy, từ cách bố trí và tỷ lệ giữa các công trình đến cách xây Bửu thành thô và rất dày cùng phần Bửu đỉnh với các các tầng hình khối chữ nhật của chúng so với lăng Cơ Thánh đều có rất nhiều nét tương đồng. Còn các lăng tẩm của các vua Nguyễn ở giai đoạn sau đã thiên về phong cách thanh mảnh; các công trình thờ cúng và tưởng niệm (như điện thờ, tượng đá người và thú, nhà bia...) đã xuất hiện đầy đủ và cấu thành một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc lăng. 

3- Hiện trạng công trình

Sau năm 1975, những nỗ lực chăm sóc của Nguyễn Phước tộc không đủ để cứu vãn tình trạng xuống cấp ngày càng trầm trọng hơn của khu lăng này. Ý thức được giá trị và tầm quan trọng của khu di tích lăng Cơ Thánh trong quần thể di tích triều Nguyễn, từ năm 1996, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã lập hồ sơ xếp hạng và khoanh vùng bảo vệ di tích này. Kể từ ngày 12 tháng 5 năm 1997, lăng Cơ Thánh đã được công nhận là di tích cấp quốc gia và được xếp chung vào Quần thể di tích Cố đô Huế- Quần thể di tích đã được công nhận Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993; từ năm 2009, lăng Cơ Thánh được nâng hạng là Di tích cấp quốc gia đặc biệt. Tuy chưa được đại trùng tu nhưng di tích này đã được tu bổ một số hạng mục và chăm sóc cẩn thận hơn. Những hạng mục đã được tu bổ, tôn tạo là miếu Thổ thần, tầng dưới sân Bái đình và cây xanh trong di tích, ngân sách để tu bổ chỉnh trang khu lăng có cả nguồn cấp từ nhà nước và nguồn xã hội hóa.

Hiện lăng do tổ bảo vệ cụm di tích lăng Thiệu Trị trực tiếp quản lý và được làm vệ sinh thường xuyên. Vừa qua, ngôi miếu Thổ thần đã được Trung tâm đầu tư tu bổ lại hoàn toàn.

Tuy nhiên khu di tích này vẫn cần được đầu tư và bảo vệ tốt hơn. Bình phong sau của Huyền cung, cổng, tường thành... cần được tu bổ, và nếu có điều kiện thì nên nghiên cứu phục hồi điện Canh Y và Thần Khố. Đặc biệt bãi cát phía trước lăng rất cần được bảo vệ và nên trồng cây xanh để góp phần tôn tạo cảnh quan chung và chống hiện tượng xói lở đất. Ngay cả miếu thờ ông Nguyễn Ngọc Huyên cách lăng gần 500m cũng rất cần được bảo vệ và sớm tu bổ vì đây là một di tích liên quan đến lăng Cơ Thánh. Và cách bảo vệ cùng phát huy giá trị tốt nhất của khu lăng độc đáo trên là phải tăng cường công tác tuyên truyền giới thiệu về di tích này, tạo điều kiện để các công ty lữ hành đưa vào tuyến tham quan của du khách. Hy vọng trong tương lai, lăng Cơ Thánh-Lăng Sọ sẽ trở thành một điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước trên tuyến du lịch ngược dòng Hương Giang xinh đẹp lên phía thượng nguồn./.

TS. Phan Thanh Hải
Viết tháng10/2003, xem lại có bổ khuyết tháng 9/2021

Ảnh: Nguyễn Phong và ảnh tư liệu (ảnh khảo cổ học năm 2018).


---
Chú thích

1. Các tài liệu trước đây đều phiên âm tên ông là Nguyễn Phúc Luân, nhưng theo các tác giả sách Nguyễn Phúc Tộc thế phả (Nxb Thuận Hoá, Huế 1995) thì tên ông đúng là Nguyễn Phúc Côn, do chữ luân có thêm bộ thủy có phiên âm thiết là Côn. Tuy nhiên, quan điểm chung hiện nay vẫn cho rằng ông tên đúng là Nguyễn Phúc Luân.

2. Lăng Vĩnh Cơ là lăng của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Hậu (vợ chúa Nguyễn Hoàng); lăng Trường Diễn là lăng chúa Nguyễn Phúc Nguyên; lăng Trường Hưng là lăng chúa Nguyễn Phúc Khoát (thân phụ ông Nguyễn Phúc Luân).

3. Chúng ta có thể minh chứng điều này từ những tư liệu lịch sử của triều Nguyễn do Quốc Sử Quán ấn hành, viết về những lần các hoàng đế triều Nguyễn viếng lăng tổ tiên của họ. Một số bài thơ do vua Minh Mạng ngự chế trong hành trình viếng lăng Cơ Thánh, mô tả tâm trạng nhà vua và cảnh quan hai bên dòng Hương cũng phản ánh điều này, như bài thơ và phần chú giải do nhà vua viết năm Canh Tý (1840):

Phiên âm: 

Phục tựu cận cung yết Cơ Thánh Lăng, Thoại Thánh Lăng, lễ thành kính kỷ.
Thao mông hạo quyến ngũ tuần di,
Diệt lại cao thâm tổ đức di.
Thiểu triển kiền thành kỳ mặc hựu,
Dụng thân hiếu kính úy truy ty.
Kiều Sơn tuy thị trùng tân nhật,
Cung kiếm y nhiên nhất cựu thì.

Cơ Thánh Lăng nãi Hoàng Tổ Khảo Hiếu Khang Hoàng Đế địa cung dã. Tây Sơn nghịch tặc Nguyễn Văn Huệ ngược hãm phương chức thì, liệt Thánh chư lăng đa bị tặc vô lễ xâm phạm. Hoàng Tổ lăng bàng hữu dân nhân Nguyễn Ngọc Huyên tâm động thập nhi tàng chi. Cập Hoàng Khảo Cao Hoàng Đế thu phục Thần Kinh thì, trùng tu lăng tẩm, Nguyễn Ngọc Huyên tức dĩ thực tố. Hoàng Khảo tức kính cẩn ư nguyên huyền cung kiến trúc dĩ trí Châu Khư nhưng nhiên y cựu, cung kiếm như tân, phát tường dục tú, thị vi hưng phục tổ lăng bổn triều vạn niên vô cương, quốc mạch thực cơ ư thử. Nguyễn Ngọc Huyên kim truy phong An Ninh Bá, lập miếu trí tế dĩ đáp kỳ tâm.

Khả thức tự thiên chung phước địa,
Tử tôn vĩnh bảo vạn niên cơ.

Dịch nghĩa:

Lại đến gần cung kính yết lễ ở Cơ Thánh Lăng, Thoại Thánh Lăng, sau khi lễ thành, kính cẩn ghi lại.
Nhờ ơn trời đất chiếu cố đến tuổi ngũ tuần,
Lại nương tựa công đức của tổ tiên để lại.
Xin tỏ bày chút lòng thành để tế cúng cho sự giúp đỡ âm thầm này,
Cũng là dùng thể hiện lòng hiếu kính để an úy ước vọng của tổ tiên.
Lăng Kiều Sơn vẫn tự tại, ngày càng mới mẻ,
Thế đất đao kiếm vẫn hiên ngang như ngày xưa.

Cơ Thánh Lăng nguyên là địa cung của Hoàng Tổ Khảo (ông nội của vua đã mất) Hiếu Khang Hoàng Đế. Khi bọn Tây Sơn nghịch tặc là Nguyễn Văn Huệ bạo ngược lộng hành, các lăng mộ của Liệt Thánh đa số đều bị bọn nghịch tặc xâm phạm. Bên cạnh lăng của Hoàng Tổ, có một người dân tên là Nguyễn Ngọc Huyên vô cùng lo lắng, bèn thu thập hài cốt ngài mà cất dấu. Cho đến khi Hoàng Khảo ta là Cao Hoàng Đế thu phục lại đất Thần Kinh rồi trùng tu lăng mộ Liệt Thánh. Nguyễn Ngọc Huyên lúc bấy giờ mới đem sự thực kể lại đầu đuôi. Hoàng Khảo lập tức kính cẩn xây dựng lại ở nơi nguyên là huyền cung, phục hồi lại gò Châu Khư vẫn như ngày trước. Thế cung kiếm nhìn vẫn mới mẻ như xưa, sự khởi phát điềm lành và chung đúc khí linh hẳn là nhờ khôi phục trùng hưng lại lăng của Hoàng Tổ Khảo. Huyết mạch của quốc gia (dịch tạm từ “quốc mạch”), khiến cho bổn triều được đời đời bền vững, thực sự là xuất phát từ đây.

Nay truy phong cho Nguyễn Ngọc Huyên tước An Ninh Bá và lập miếu thờ nhằm đền đáp tấm lòng thành của Huyên vậy.

(Trích từ Minh Mạng ngự chế thi)

Khám phá Huế tổng hợp
 Bản in]

Điểm đến được yêu thích nhất

  • Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
  • Vào những ngày đầu xuân, tại Trung tâm VHDL tâm linh Quán Thế Âm (núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, TT-Huế) đông đúc người dân khắp mọi miền về đây ngắm cảnh và chiêm bái Quan Âm Phật đài.
  • Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Có rất nhiều điểm đến ấn tượng ở Huế, tuy nhiên có một khu du lịch sinh thái tuyệt đẹp mà không phải khách tham quan nào cũng biết, đó là chùa Huyền Không Sơn Thượng.
  • Lăng Cô, vịnh biển đẹp của tỉnh Thừa Thiên Huế được đánh giá là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới.
  • Lăng Minh Mạng là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993.
  • Lăng Gia Long là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993.
Về đầu trang