Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)
Phong trào đồng khởi của các dân tộc miền núi Trị Thiên đã cùng lúc với phong trào đồng khởi chung của toàn miền Nam; Mặt trận dân tộc giải phóng Thừa Thiên Huế cũng đã được hình thành và ra lời kêu gọi đánh dấu bước ngoặt mới của cách mạng, cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, đảng viên và nhân dân trên toàn tỉnh, cán bộ trở về hoạt động ở đồng bằng và thành phố, luồn sâu vào các thôn xóm gây dựng lại cơ sở cách mạng.

I - ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI MIỀN NÚI (1954 – 1960)

Đế quốc Mỹ sau khi thay chân thực dân Pháp thống trị miền Nam đã ráo riết thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Cuối tháng 6/1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng Chính phủ “Việt Nam cộng hòa”.

Ngô Đình Diệm sau khi lên cầm quyền đã thi hành một loạt chính sách phản động, vi phạm các điều khoản trong Hiệp định Genève, tăng cường các lực lượng quân sự, khủng bố trả thù cách mạng.

Thừa Thiên Huế có Huế là trung tâm chính trị thứ hai ở miền Nam sau Sài Gòn, tiếp giáp với miền Bắc. Vì vậy, ngoài bộ máy ngụy quyền tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thiết lập ở Huế một bộ máy cai trị cấp miền (gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên). Ngoài ra, anh ruột Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Thục giữ chức Tổng giám mục địa phận Huế. Có thể nói Huế là “một triều đình thứ hai” sau Sài Gòn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ngô Đình Cẩn.

Tại Thừa Thiên Huế, Mỹ - Diệm tập trung xây dựng và củng cố thế lực nhằm kiểm soát và kìm kẹp nhân dân, tiến đến tiêu diệt phong trào cách mạng. Chúng lập các Trung tâm cải huấn ở Thanh Tân (Phong Điền), Thành Nội (Huế), chia lại địa bàn hành chính, thành lập các xã mới, tăng cường lực lượng quân sự ở Nam Giao, Phú Bài, Thuận An, Thừa Lưu, Tứ Hạ, Hòa Mỹ... Dưới bàn tay của bạo chúa Ngô Đình Cẩn, chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai chính sách “tố cộng, diệt cộng” ở Thừa Thiên Huế hết sức ác liệt nhằm tiêu diệt tận gốc mầm mống cách mạng trong nhân dân. Chính sách “tố cộng, diệt cộng” đã gây ra tình trạng hết sức căng thẳng trong nhân dân. Hàng ngày, có hàng trăm người đi dọc ven bờ sông Hương, sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Nong, sông Truồi, sông Đại Giang... tìm kiếm xác người thân, hoặc tập trung tại các quận lỵ dò tin tức người thân.

Sự tàn bạo của chính quyền Mỹ - Diệm càng đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân ta lên cao.

Thực hiện tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa II (7/1954), có nội dung cơ bản là chuyển cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân miền Nam trong chiến tranh sang đấu tranh chính trị trong hòa bình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhân dân Thừa Thiên Huế đã dấy lên một phong trào đấu tranh sôi nổi từ thành thị đến nông thôn đòi địch thi hành Hiệp định Genève, chống khủng bố những người kháng chiến, đòi dân sinh dân chủ.

Một số phong trào nổi bật trong thời kỳ này là phong trào Hòa bình của trí thức, phong trào đấu tranh của chị em tiểu thương, của công nhân và tù chính trị. Tại các quận huyện nhân dân liên tục nổi dậy uy hiếp, hỗ trợ cho cán bộ làm nhiệm vụ, cùng cán bộ đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève. Tiêu biểu là các trận bao vây đồn Kim Đôi kêu gọi lính ngụy về với nhân dân của nhân dân Quảng Điền (2/8/1954); bao vây địch để bảo vệ cán bộ đang tổ chức cho dân chúng học tập chính trị tại Phú Vang (7/11/1954); vây đồn Thế Chí Tây và bắt viên trưởng đồn  tại Phong Điền (31/10/1954)... Nổi bật hơn cả là phong trào đấu tranh đòi địch đắp đập Thuận An, diễn ra gần như đều khắp các quận trong Tỉnh.

Trong kháng chiến chống pháp, miền núi hầu hết là vùng tự do, nhưng sau Hiệp định Genève, chính quyền Mỹ - Diệm đã cho quân chiếm đóng toàn bộ và thiết lập bộ máy cai trị. Toàn miền núi Thừa Thiên Huế có tới 18 đồn bốt, và phát triển đạo Tin Lành nhằm nắm chặt đồng bào, chia rẽ đồng bào Kinh - Thượng.

Tháng 11/1957, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp tại bản Ấp Rùng, xã Thượng Long miền Tây Thừa Thiên Huế. Hội nghị đã quyết định xây dựng miền núi Thừa Thiên Huế thành căn cứ cách mạng. Tỉnh ủy bố trí cán bộ từ đồng bằng lên, cùng với một số cán bộ đã cắm bản từ trước kiên trì bám trụ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào nhanh chóng giác ngộ, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ bằng vũ khí thô sơ đã nảy sinh trong phong trào quần chúng.

Giữa lúc phong trào cách mạng miền núi Thừa Thiên Huế đang có bước chuyển biến quan trọng thì ánh sáng Nghị quyết 15 (1/1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về đường lối cách mạng miền Nam được truyền đến Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà. Tỉnh uỷ khẩn trương tổ chức học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương. Một trong những nhiệm vụ chiến lược của Nghị quyết Trung ương 15 là việc mở đường 559 - đường Hồ Chí Minh. Miền núi Thừa Thiên Huế với con đường 559 nối liền mạch máu với cả nước từng bước trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc làm chỗ dựa cho đồng bằng.

Sau một thời gian triển khai Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, tháng 2 năm 1960 Tỉnh uỷ đã họp và nhận định tình hình đồng bằng và miền núi. Về tình hình đồng bằng phong trào đấu tranh chính trị được dấy lên như chống luật 10/59, chống bắt dân đi dinh điền, chống cưỡng bức vào công giáo, vạch mặt bọn đầu cơ gạo... các cuộc đấu tranh đã hạn chế được sức phá hoại của địch.

Các huyện đã bắt đầu triển khai thế đứng chân ở vùng giáp ranh, tiến hành tuyên truyền vũ trang. Nông thôn đã bắt đầu xây dựng được cơ sở quần chúng.

Ở miền núi, Tỉnh uỷ chủ trương phát động khởi nghĩa tiến tới làm chủ miền núi, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đưa cán bộ xuống nhân dân, trực tiếp chỉ huy đấu tranh trực diện, chống càn quét, khủng bố, cướp phá mùa màng... Phát động phong trào thanh niên làm vũ khí như chông, bẫy..., luyện tập quân sự, đào tạo cán bộ xã đội, thôn đội, mở lớp huấn luyện quần chúng nổi dậy...

Sự phát triển của phong trào cách mạng miền núi làm cho nguỵ quyền hết sức lo sợ, nên chúng dùng nhiều thủ đoạn để tiêu diệt phong trào miền núi như: tổ chức các đội thám báo biệt kích để truy tìm cơ quan, kho tàng, đường Trường Sơn, mở các cuộc càn quét...

Tháng 10/1960 địch mở cuộc hành quân với quy mô lớn, từ 2- 3 tiểu đoàn, không cho nhân dân thu hoạch lúa, chúng đốt rẫy, giết dân... những tội ác ấy gây sự căm phẫn, uất ức đối với đồng bào dân tộc. Thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đêm 18/10/1960, 15.000 đồng bào các dân tộc Pa-cô, Ka-tu, Vân Kiều, Pa-hy đã đồng loạt nổi dậy, thực hiện vũ trang tuyên truyền vùng Khe Tranh, vây bắt bọn ác ôn và mở phiên toà xét xử tại chỗ, trừng trị tên Viên Tự, Chánh tổng “Cần lao”. Hơn 2000 đồng bào mitting ở Hương Lâm, 2000 đồng bào mitting ở Phong Lâm... khắp nơi trên địa bàn miền núi Thừa Thiên Huế nổi dậy khởi nghĩa, tuyên bố xoá bỏ nguỵ quyền, thiết lập chính quyền cách mạng. 18 đồn bốt lớn nhỏ của địch ở miền núi bị nhân dân và lực lượng vũ trang vây chặt. Trước sức mạnh của phong trào, địch phải rút bỏ 15 vị trí chỉ còn lại những đồn bốt lớn như A So, Khe Tre, Nam Đông. Nhiều cuộc hành quân nhằm giành lại miền núi đều bị bẻ gẫy, miền núi Thừa Thiên Huế căn bản được giải phóng.

Phong trào đồng khởi của các dân tộc miền núi Trị Thiên đã cùng lúc với phong trào đồng khởi chung của toàn miền Nam; Mặt trận dân tộc giải phóng Thừa Thiên Huế cũng đã được hình thành và ra lời kêu gọi đánh dấu bước ngoặt mới của cách mạng, cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, đảng viên và nhân dân trên toàn tỉnh, cán bộ trở về hoạt động ở đồng bằng và thành phố, luồn sâu vào các thôn xóm gây dựng lại cơ sở cách mạng.

II - ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ KẾT HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ, TIẾN HÀNH ĐỒNG KHỞI ĐỒNG BẰNG, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” (1961 – 1965)

Từ năm 1961, trước sự tấn công mạnh mẽ và dồn dập của quân dân miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai lúng túng, bị động, chúng nhanh chóng tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”. Đối với Trị Thiên Huế chúng lập phòng tuyến ngăn chặn cách mạng ở đường miền núi và hành lang chiến lược, mục tiêu là bình định được đồng bằng sau đó tập trung giành lại miền núi. Bằng âm mưu và những thủ đoạn này, chúng đã gây cho ta nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở và phong trào cách mạng ở đồng bằng. Trước tình hình đó, từ ngày 21 đến 26 tháng 4 năm 1961 Đại hội đại biểu Đảng bộ Thừa Thiên Huế đã họp tại chòi Con Hiên, làng Tà Pat, có 52 đại biểu dự Đại hội. Nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội là vạch phương hướng lãnh đạo nhân dân vùng lên chống phá “ấp chiến lược”, nhanh chóng phát triển lực lượng, tiến công từ rừng núi xuống đồng bằng, đẩy mạnh tuyên truyền và hoạt động vũ trang, xây dựng cơ sở chính trị rộng rãi, kiên quyết giành dân, giành quyền làm chủ, đưa chiến tranh cách mạng phát triển lên bước mới, đưa phong trào cách mạng của Tỉnh tiến kịp phong trào toàn khu và toàn miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, những năm 1961, 1962 các lực lượng vũ trang đã thực hiện đánh 37 trận, diệt 154 tên, và thu 37 súng các loại, phá ấp chiến lược 37 lần, diệt 35 tên. Nhiều trận đánh có tiếng vang lớn tạo điều kiện cho đấu tranh chính trị, đưa phong trào cách mạng phát triển. Địch buộc phải giảm các hoạt động quân sự ở miền núi và quay lại đối phó với đồng bằng và thành phố. Lần đầu tiên sau nhiều năm, ta đã hình thành và xây dựng được thế liên hoàn cả ba vùng chiến lược, hình thành thế tiến công địch ở đồng bằng và thành phố.

Trước thắng lợi của cách mạng, uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng ngày càng sâu rộng trong nhân dân. Mâu thuẫn giữa tầng lớp nhân dân với chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày càng sâu sắc. Xu hướng chống Diệm ở thành phố Huế phát triển cao đưa đến cuộc đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân thành phố Huế chống Diệm - Nhu mùa hè năm 1963.

Ngày 7 tháng 5 năm 1963, theo lệnh của Ngô Đình Diệm, cảnh sát ngụy quyền Thừa Thiên Huế đã hạ cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản. Tối ngày 7 tháng 5 năm 1963 đông đảo nhân dân mà phần lớn là đồng bào theo đạo Phật kéo đến trước dinh Tỉnh trưởng để phản đối ngụy quyền. Đó cũng là mở đầu cho phong trào nhân dân liên kết, xuống đường công khai chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm. Phong trào diễn ra mạnh mẽ gần 4 tháng với các cuộc mitting, biểu tình, tiến hành đại lễ trước sự cấm đoán của chính quyền, làm lễ cầu siêu và đặc biệt có nhiều tu sĩ tự nguyện tử vì đạo như Hoà thượng Thích Quảng Đức, Đại đức Thanh Tuệ, Hoà thượng Thích Tiêu Diêu... Phong trào đấu tranh chính trị này diễn ra với quy mô lớn, có tính chất nhân dân rộng rãi, đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp, các giới ở một trung tâm chính trị, làm nổi loạn thành phố, nơi mà kẻ địch cho là an toàn nhất. Cuộc đấu tranh góp phần vạch trần bộ mặt tàn ác của chế độ Mỹ - Diệm trước dư luận trong nước và thế giới, đây cũng là phong trào mở đầu cho phong trào đấu tranh đô thị trên toàn miền Nam.

Sau năm 1963, Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế tích cực, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt nhằm đưa phong trào lên một thời kỳ mới, thời kỳ phá kìm, giành dân, đưa phong trào đồng bằng lên thế đấu tranh chính trị, quân sự, tiến công địch bằng cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận.

Đầu năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế chủ trương: “Phát huy sức mạnh của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, lợi dụng sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn mà tổ chức lực lượng, tiến công mạnh mẽ, đều khắp, làm tan rã, tê liệt chính trị, tư tưởng và tổ chức, phá ấp chiến lược, chuẩn bị thiết thực cho việc phá thế kìm kẹp của địch”. Thực hiện chủ trương trên, nhân dân Thừa Thiên Huế bước vào phong trào đồng khởi đồng bằng năm 1964.

Đên mồng 5 rạng ngày 6/7/1964, phong trào đồng khởi diễn ra khắp vùng đồng bằng trong tỉnh. Ở phía Bắc tỉnh, nhân dân nhiều xã nổi dậy phối hợp với bộ đội và đội công tác võ trang tiến hành tấn công địch, phá ấp chiến lược, xóa bỏ ngụy quyền, tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở cơ sở và chính quyền tự quản của nhân dân. Phong trào Đồng Khởi đã mở ra một vùng giải phóng rộng lớn gồm nhiều xã: Phong Sơn, Phong An, Phong Thái, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương (Phong Điền), Phong Nhiêu, Quảng Thái (Quảng Điền) và Hương Vân, Hương Thọ, Hương Hồ, Hương Mai, Hương Thái, Hương Bình, Hương Thạnh (Hương Trà). Ở phía Nam, lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân tấn công và nổi dậy giải phóng các xã Phú Đa, Phú Hồ và một số thôn của Vinh Phú, Vinh Thái, Phú Xuân, Phú Lương (Phú Vang); Lộc An, Lộc Tụ (Phú Lộc); nhiều thôn xã của xã Thủy Bằng, Thủy Thanh, Thủy Phương (Hương Thủy).

Cùng với phong trào Đồng khởi ở vùng nông thôn, phong trào đấu tranh chính trị ở thành phố Huế cũng diễn ra mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên dưới các hình thức biểu tình, hội thảo, bãi khóa phản đối “Hiến chương Vũng Tàu”, chống ngụy quyền Nguyễn Khánh. Phong trào đấu tranh của Phật giáo biểu tình, tuần hành phản đối Hiến chương 16/8/1964. Tiểu thương các chợ Đông Ba, Bến Ngự, An Cựu bãi thị để hưởng ứng. Khắp nơi trong toàn tỉnh Thừa Thiên, các quận, xã gửi tuyên ngôn ủng hộ lập trường đấu tranh của sinh viên, học sinh, giáo chức và các giới Huế.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đô thị, mà trước hết là Huế, ngụy quyền Nguyễn Khánh đã có sự nhượng bộ như thu hồi “Hiến chương Vũng Tàu”, giải tán Hội đồng quân đội.

Nổi bật trong phong trào đô thị Huế ở thời điểm này là sự ra đời của Hội đồng nhân dân cứu quốc ngày 28/8/1964, bao gồm hầu hết các lực lượng đấu tranh chống chính quyền độc tài Nguyễn Khánh tại Thừa Thiên Huế.

Phong trào đô thị Huế trong năm 1964 nói chung, Hội đồng nhân dân cứu quốc nói riêng đã góp phần tích cực vào việc phá lỏng thế kìm kẹp của địch ở thành phố, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng Thừa Thiên Huế phát triển không chỉ ở thành phố mà cả ở nông thôn và đồng bằng.

Từ cuối tháng 11/1964 đến 5/1965, quân và dân Thừa Thiên Huế liên tục đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, giữ vững vùng giải phóng ở miền núi và giáp ranh, mở rộng quyền làm chủ đồng bằng và ven biển. Trong đợt này toàn tỉnh đã giải phóng được 76 thôn, 4 nông trường và giành được 4 vạn dân.

III - ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ, THỰC HIỆN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1968, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965 – 1968)

Các cuộc tiến công và nổi dậy mạnh mẽ của quân dân miền Nam làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu trực tiếp thực hiện chiến tranh xâm lược miền Nam.

Tại Thừa Thiên Huế, Phú Bài trở thành căn cứ đầu tiên đóng quân của quân đội viễn chinh Mỹ để triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ” trên địa bàn hai tỉnh Trị - Thiên.

Ngày 25/7/1965, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên họp tại vùng núi huyện Hương Trà. Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ mới để lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn gian khổ, dũng cảm đương đầu với quân Mỹ, dám đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Tháng 4/1966 Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên Huế được thành lập do Thiếu tướng Trần Văn Quang làm Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu. Nhiệm vụ của Quân khu là: “Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ra sức chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang thành phố để phục vụ kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa khi có điều kiện chín muồi... Cắt đứt đường giao thông chiến lược của địch, xây dựng đường hành lang của ta, giành thắng lợi về mọi mặt và tạo nên một tình thế mới trên chiến trường Trị - Thiên, phối hợp tốt với các chiến trường khác trong mọi tình huống”.

Hội nghị Tỉnh ủy Thừa Thiên tháng 6 và tháng 12/1966 nhằm quán triệt và cụ thể hóa các nhiệm vụ của Khu ủy giao.

Tại Thừa Thiên Huế các vành đai diệt Mỹ đã được xây dựng xung quanh căn cứ Phú Bài, Đồng Lâm, đường 12, đường 14. Tháng 11/1965, một sự kiện quân sự có ý nghĩa lớn đối với ta là quân dân hai huyện Phong Điền, Quảng Điền đánh tan cuộc càn quét của Mỹ - Ngụy có xe bọc thép M.113 yểm trợ được xem là trận đánh phủ đầu chiến thuật “thiết xa vận” mà Mỹ sử dụng để càn quét đồng bằng, nhất là vùng kháng chiến của ta.

Bước vào nửa đầu năm 1966 nói riêng và cả năm 1966 nói chung, những hoạt động quân sự đã tiếp tục góp phần giữ vững thế trận, đưa phong trào cách mạng vượt qua những thử thách mới. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích các xã đã đánh bại các trận càn của Mỹ ngụy.

Để mở rộng vùng giải phóng làm chỗ đứng chân cho lực lượng cách mạng, từ tháng 6/1966, nhân dân ba xã Quảng Ninh, Quảng Hòa, Quảng Đại (Quảng Điền) đã tiến hành đồng khởi, giải phóng một số thôn. Số thôn còn lại, dưới sự lãnh đạo của các đội công tác vũ trang, nhân dân đã kiên trì bám trụ đánh địch phản kích, đến thắng 11/1966 cả ba xã hoàn toàn giải phóng, tạo địa bàn quan trọng cho cách mạng, mở ra thế trận cho cả ba vùng và tạo thế cho sự phát triển của phong trào trong những năm tiếp theo.

Cùng với các hoạt động quân sự là phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ở các vùng đồng bằng, nông thôn và thành phố Huế góp phần tạo nên những đòn đánh trực diện vào chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của sinh viên Huế tháng 8/1965 với các cuộc biểu tình, tuần hành, phát thanh, “những đêm không ngủ” đã góp phần nâng cao ý thức chính trị trong nhân dân, giúp các tầng lớp trung gian hiểu rõ hơn về chính sách xâm lược của Mỹ và bản chất tay sai của chính quyền Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho Huế bước vào cao trào đấu tranh chính trị suốt mùa hè năm 1966.

Ngày 9/3/1966, tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư lệnh Quân đoàn I kiêm Tư lệnh vùng I Chiến thuật bị cách chức. Nắm lấy cơ hội địch mâu thuẫn, các tầng lớp nhân dân đã xuống đường đòi hòa bình, chống chiến tranh, đòi lật đổ Thiệu - Kỳ. Cả Huế vùng lên, tăng ni Phật tử mitting, sinh viên, học sinh bãi khóa, tiểu thương bãi thị, công chức bãi việc, quần chúng tổ chức lễ tẩy chay Mỹ. Cuộc đấu tranh đã hình thành một mặt trận rộng rãi, tạo nên phong trào liên minh hành động có tính chất bạo lực chống Mỹ và tay sai giữa nhân dân lao động, sinh viên học sinh với Sư đoàn I ngụy ly khai khỏi ngụy quyền Sài Gòn.

Cuộc đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân đã đẩy kẻ thù rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng, địch không kiểm soát được thành phố Huế. Chính quyền Sài gòn đã cho máy bay chở hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến và dù ra Đà Nẵng hòng đàn áp phong trào. Phản ứng trước việc chính quyền Sài Gòn đem quân đàn áp ở Đà Nẵng, ngày 5/4/1966 Đoàn Thanh niên quyết tử Huế gồm 66 sinh viên, do Nguyễn Đắc Xuân làm Đoàn trưởng được thành lập, ngày 8/4 một bộ phận lên đường vào chi viện cho Đà Nẵng. Qua tháng 5/1966, một tổ chức mang tên Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức cũng được thành lập bởi người thầy giáo yêu nước Ngô Kha, tập hợp lực lượng chống Mỹ - Thiệu.

Sau sự kiện thành lập Đoàn sinh viên quyết tử và Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức, tinh thần võ trang tranh đấu lan rộng đến nhiều tầng lớp nhân dân, lần lượt xuất hiện một số tổ chức như Đoàn học sinh ứng chiến, Công chức chống đàn áp, Giáo chức tranh thủ dân chủ, Nữ sinh cứu thương...

Sau ba năm (1963 - 1966), cuộc đấu tranh chính trị hoàn toàn bất bạo động, đến mùa hè năm 1966, phong trào đấu tranh ở Huế từ đấu tranh chính trị chuyển sang đấu tranh vũ trang tự vệ, đánh dấu một bước ngoặt mới của phong trào trong sự nghiệp chung chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Thành tựu quan trọng nhất của những ngày sôi nổi khí thế chống Mỹ - Thiệu trong năm 1966 của các tầng lớp nhân dân Huế chính là đã tập dượt, chuẩn bị thiết thực cho lần nổi dậy với quy mô lớn chỉ hơn một năm sau đó trong Xuân 1968.

Sáu tháng cuối năm 1966, các lực lượng vũ trang bao gồm bộ đội địa phương và du kích đã tích cực chống địch bình định, bảo vệ vùng giải phóng, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp.

Qua năm 1967, phong trào chiến tranh du kích tiếp tục phát triển mạnh mẽ, góp phần củng cố và mở rộng vùng giải phóng và vùng tranh chấp. Đó là năm có nhiều chiến công của lực lượng vũ trang trong tỉnh: chiến công của tiểu đoàn 4 (K4) và du kích Vinh Thái (Phú Vang) đánh tan 6 trung đội địch càn quét bình định, trong đó có ba cố vấn Mỹ (1/1967); trận du kích thôn Lợi Nông (Hương Thủy) đánh bại cuộc càn quét của địch, bảo vệ thôn xóm (2/1967); trận Tiểu đoàn 4 cùng bộ đội địa phương, du kích phú Vang tiến công chi khu quận lỵ Phú Thứ (2/1967); trận phá ấp chiến lược Dưỡng Mong của bộ đội địa phương tỉnh; trận tiêu diệt căn cứ mã thám của Mỹ và đánh nát sân bay trực thăng Mỹ ở Phú Bài; trận tập kích vào khách sạn Hương Giang...

Cùng với chiến công trên mặt trận quân sự, phong trào đấu tranh chính trị cũng có bước chuyển quan trọng, phong trào Phật giáo phát triển mạnh, nhiều sinh viên, học sinh Huế thoát ly lên chiến khu, một số bám sát địa bàn, bí mật xây dựng cơ sở.

Cuối năm 1967, Bộ Chính trị họp và đi đến quyết định tiến hành Tổng tấn công, tổng khởi nghĩa trên toàn miền. Chiến trường Huế được coi là một trong hai chiến trường trọng điểm (Sài Gòn - Huế). Nhiệm vụ là thực hành tổng tiến công, nổi dậy đồng loạt đánh chiếm thành phố Huế, các thị xã thị trấn, đánh tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng nông thôn, thiết lập chính quyền cách mạng, tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Tại Huế, 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968 pháo binh của ta đồng loạt nã vào những căn cứ của địch mở đầu cuộc tổng tấn công lịch sử. Sau 7 giờ chiến đấu, đến 9 giờ ngày 31 tháng 01 năm 1968, cờ MTDTGP phấp phới trên đỉnh cao cột cờ Phu Văn Lâu quân ta làm chủ hoàn toàn thành phố. Quân ta đã làm chủ thành phố trong 26 ngày đêm. Trong 26 ngày đêm tấn công nổi dậy, quân ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đập nát cơ quan đầu não, đánh tan rã hệ thống kìm kẹp của địch từ tỉnh đến cơ sở. Ngày 25 tháng 2 năm 1968 do tương quan lực lượng không cân sức, quân đội ta chiến đấu ở thành phố lâu ngày đã bộc lộ nhiều khó khăn, cấp trên ra lệnh rút khỏi thành phố, kết thúc chiến dịch Xuân Mậu Thân.

Thắng lợi của cuộc tiến công, nổi dậy Xuân 68 góp phần quan trọng vào việc đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc chúng phải xuống thang và thay đổi chiến lược chiến tranh. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy thắng lợi tết Mậu Thân, thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc.

III - VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, CHỐNG ĐỊCH BÌNH ĐỊNH, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” (1969 - 1973)

Sau chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, đế quốc buộc phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris. Tuy nhiên, sau khi lên làm Tổng thống Mỹ, Nixon bắt đầu cho thi hành ở Việt Nam chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” bằng vũ khí và đô la của Mỹ, do Mỹ chỉ huy, cùng một lúc thực hiện ba loại hình chiến tranh: Giành dân, bóp nghẹt và hủy diệt để bình định nông thôn đồng bằng, hòng làm cho lực lượng cách mạng mất chỗ dựa dễn đến suy yếu.

Thừa Thiên Huế được Mỹ cho là một trong những chiến trường trọng điểm thực hiện ba loại hình chiến tranh kể trên.

Ở thành phố Huế và các thị trấn quận lỵ, địch tiến hành khủng bố khốc liệt, đồng thời kiểm soát và kềm kẹp rất chặt. Ở nông thôn đồng bằng, địch tập trung lực lượng triển khai kế hoạch “bình định cấp tốc” (từ tháng 10/1968). Ở vùng rừng núi, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân với quy mô lớn và vừa, sử dụng hỏa lực phi pháo và máy bày B.52 bắn phá ác liệt, đồng thời dùng chất độc hóa học phát quang cây cối, phá hoại mùa màng, cắt đứt đường giao thông vận chuyển của ta, phá hoại các kho tàng, ngăn chặn tiếp viện từ miền Bắc.

Tiếp sau “bình định cấp tốc” là “bình định đặc biệt”, kết hợp với kế hoạch “Phượng hoàng” và hàng nghìn cuộc hành quân càn quét khốc liệt. Chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát gần trọn đồng bằng, ngăn chặn được ta ở vùng giáp ranh và liên tục đánh phá hành lang, kho tàng, hậu cứ của ta ở miền núi.

Dưới sự lãnh đạo của các cơ sở Đảng, nhân dân đã dũng cảm đứng lên đấu tranh một mất một còn với kẻ thù, quyết không để địch thực hiện ý đồ cào xúc dân, bắt lính, cũng như quyết đòi về làng cũ khi đã bị dồn vào các khu tập trung.

Sau một thời gian khôi phục và củng cố lực lượng, từ giữa năm 1969, phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Huế bắt đầu sôi sục trở lại. Các tầng lớp tiểu thương, dân nghèo thành thị, thanh niên, sinh viên và học sinh liên tục đấu tranh chống tăng thuế, chống bắt lính, đòi tự do dân chủ, đòi hòa bình, chống khủng bố, đòi chấm dứt chiến tranh.

Song song với phong trào đấu tranh chính trị, sang đến năm 1969, bộ đội chủ lực của ta đã tổ chức chống càn thắng lợi. Miền núi phía Tây Thừa Thiên được củng cố, thế đứng chân của lực lượng vũ trang và hậu cứ kho tàng được xác lập.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Phong trào “đau thương nhớ Bác” diễn ra khắp nơi trong tỉnh. Nhiều người trong cộng đồng các dân tộc ở miền Tây Trị Thiên đã đổi sang họ Hồ để ghi nhớ công ơn to lớn của Người.

Những năm 1970, 1971, 1972 lực lượng của ta lớn mạnh vượt bậc. Cục diện chiến tranh trên toàn miền Nam nói chung và ở chiến trường Trị Thiên Huế nói riêng ngày càng có lợi cho ta. Trên chiến trường Trị Thiên bên cạnh những thắng lợi về mặt quân sự có ý nghĩa nắm thế chủ động trên chiến trường như trận ABia (1969); Cô Ca Va (A Lưới); trận tiêu diệt 7 đoàn bình định, mở đợt diệt ác, phá kìm, giành dân ở vùng giáp ranh xã Phong Hòa, Phong An (1969), Quảng Hòa, Hương Vân, Hương Thái; Ba đợt tiến công địch năm 1970, thắng lợi trận đường 9 - Nam Lào 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972... , chúng ta đẩy mạnh đấu tranh chính trị, phong trào đấu tranh công khai diễn ra sôi nổi khắp thành phố. Tính từ tháng 3/1969 đến 11/1970 có 25 cuộc xuống đường có qui mô lớn và vừa cùng  hàng trăm cuộc đấu tranh lẻ tẻ khác. Đặc biệt phong trào học sinh, sinh viên phát triển mạnh mẽ với một số phong trào nổi bật như: “Hát cho đồng bào tôi nghe”; in và phát hành tờ báo “Tiếng nói sinh viên”, “Tự quyết”...

Sang đến năm 1971, từ tháng 5 đến tháng 12/1971 đã diễn ra 66 cuộc đấu tranh công khai với quy mô vừa và lớn. Đặc biệt nhiều cuộc đấu tranh có tổ chức lãnh đạo và huy động được 10 vạn lượt người  tham gia giương cao các khẩu hiệu: “Hòa bình, hòa hợp dân tộc”; “Mĩ rút hết quân”; “Thiệu phải từ chức”...
Đến năm 1972, Thường vụ Tỉnh ủy đã họp đề ra kế hoạch “Tích cực tranh thủ thời cơ, mạnh dạn dưa phong trào thành phố lên thành cao trào cách mạng của quần chúng phối hợp với nông thôn, quận lỵ, thị trấn làm lung lay tận gốc ngụy quyền”.

Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân Thừa Thiên Huế, tuy không thực hiện được kế hoạch đề ra là giải phóng quê hương, song là một bước nhảy vọt của cách mạng, tạo ra cục diện mới để đánh bại chiến lược “Việt nam hóa chiến tranh” của Mỹ, góp phần cùng chiến thắng cả nước và buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam.

IV - CÙNG CẢ NƯỚC TIẾN LÊN GIÀNH THẮNG LỢI HOÀN TOÀN (1973 – 1975)

Cuộc đấu tranh của quân dân Thừa Thiên Huế những năm 1973, 1974 đòi đối phương thi hành Hiệp định và chống bình định lấn chiếm đã góp phần tạo điều kiện cho cuộc tiến công nổi dậy vào mùa xuân năm 1975.

Đến cuối năm 1974 đầu năm 1975, so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng. Tháng 10 và tháng 12/1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong vòng 2 năm 1975 - 1976. Ngoài kế hoạch cơ bản trên, Bộ Chính trị còn dự kiến phương án: “Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Ngày 10/2/1975, Quân ủy Trung ương phê chuẩn kế hoạch năm 1975 của Quân khu Trị Thiên với nội dung cơ bản là: “Tập trung toàn bộ lực lượng Quân khu và Quân đoàn II, tranh thủ thời cơ thuận lợi của năm 1975, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở Trị - Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh vào kho tàng hậu cứ, triệt phá giao thông; tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế”.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam đã diễn ra gần hai tháng (từ 4/3 đến 30/4) với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đánh thẳng vào Sài Gòn.

Năm giờ 45 phút sáng ngày 8/3/1975, ở cánh Nam Huế, pháo của Sư đoàn 324 (Quân đoàn II) bắt đầu dội bão lửa xuống các cứ điểm địch, mở màn chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Và 6 giờ 30 phút ngày 26/3/1975, Trung đoàn 6 bộ binh Quân khu chính thức kéo lá cờ MTDTGP miền Nam Việt Nam dài 12m, rộng 8m lên đỉnh Cột cờ, đánh dấu mốc lịch sử Thừa Thiên Huế hoàn toàn giải phóng.

Sau 18 ngày đêm chiến đấu (từ 8 đến 26/3/1975), quân và dân Thừa Thiên Huế đã hoàn toàn giải phóng quê hương, đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của địch ở phía Bắc, làm thất bại kế hoạch “Phòng ngự co cụm chiến lược” của địch ở các tỉnh duyên hải miền Trung, góp phần quyết định vào thắng lợi chiến dịch Huế - Đà Nẵng, tạo đà thần tốc chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bản tin chiến sự cuối cùng về quân đội Sài Gòn ở Huế được hãng UPI tường thuật ngắn gọn: “Hôm nay 26/3/1975, các lực lượng Việt Nam (quan đội Sài Gòn) đã thực sự trao thành phố Cố đô Huế cho những người cộng sản. nhiều nguồn tin đều nói các đơn vị còn lại trong thành phố Huế đã đầu hàng”.

Sau chiến dịch Huế - Đà Nẵng là chiến dịch Hồ Chí Minh mà đỉnh cao là thắng lợi lịch sử ngày 30/4/1975, là một mốc son trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, đồng thời là một trong những cuộc đấu tranh cách mạng kiên cường nhất của các dân tộc trên thế giới trong thời đại ngày nay, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong bản Di chúc của Người:

“Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, nhân dân Thừa Thiên Huế đã cùng đồng bào cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.  

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử
(Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Khi biên soạn bộ điển lệ nổi tiếng của triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, các sử quan của triều đình đã dành quyển 78 và quyển 242 để bàn về việc ăn mặc của các bậc đế, hậu, hoàng tử, công chúa, quan lại… triều Nguyễn, từ trang phục dùng trong các dịp triều lễ, khánh tiết, tết nhứt, cho đến thường phục, kể cả nội y, “phụ kiện”...
  • Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25/05/1791 – 20/01/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840.
Về đầu trang