Chùa Thiên Mụ - Cổ tự xứ Huế
Chùa Thiên Mụ (hay còn gọi là chùa Linh Mụ) nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế chừng 5km về hướng Tây thuộc địa phận huyện Hương Trà.
Chùa Thiên Mụ nhìn từ trên cao.
Chùa Thiên Mụ nhìn từ trên cao.

Truyền thuyết chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ (hay còn gọi là chùa Linh Mụ) nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế chừng 5km về hướng Tây thuộc địa phận huyện Hương Trà. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601) đời chúa Nguyễn Hoàng – vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong.

Trước thời điểm khởi lập chùa, trên đồi Hà Khê có ngôi chùa cũng mang tên Thiên Đỗ (Thiên Mẫu) là ngôi chùa của người Chăm.

Theo truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị mưu đồ mở mang bờ cõi, xây dựng giang sơn. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngước lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên bờ dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như một con rồng đang quay đầu nhìn lại – ngọn đồi này có tên là Hà Khê.


Cổng tam quan chùa Thiên Mụ.

Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi nói với mọi người: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh”. Vì vậy nơi đây còn được gọi với tên linh thiêng là Thiên Mụ Sơn.

Tư tưởng của chúa Nguyễn Hoàng dường như đã bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng, Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601 chúa Nguyễn đã cho xây dựng một ngôi chùa trên đồi, nhìn thẳng ra sông Hương và đặt tên là “Thiên Mụ”.

Kiến trúc chùa Thiên Mụ

Điện Đại Hùng: Là ngôi nhà chính điện trong chùa, kiến trúc kiểu Trùng thiền điệp ốc. Đền được phục chế năm 1959, các cột kèo được xây dựng bằng bê tông bên ngoài là một lớp sơn giả gỗ. Trong điện thờ tượng phật Di Lặc miệng cười bao dung. Ở bức hoành phi trên cao có 4 chữ “Linh Thửu Cao Phong” do chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714.


Điện Đại Hùng chánh điện của chùa Thiên Mụ. Đây là nơi đặt tượng phật Di Lặc có đôi tai rất lớn nhằm lắng nghe những khổ cực của chúng sinh. Phật có chiếc bụng to để khoan dung những lầm lỗi của dân chúng, khuôn miệng cười tươi rất đôn hậu.

Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày. Ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam Đào Tấn được đặt gần chiếc xe ô tô – di vật của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Cuối khu vườn là khu mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của chùa Thiên Mụ, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời.


Đi theo bên hông điện để vòng ra phía sau vườn, nơi đây có nhà trưng bày Chiếc xe Austin gắn liền với sự kiện bi hùng của hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính sách bạo tàn kỳ thị Phật giáo và đàn áp tự do tín ngưỡng của chế độ Ngô Đình Diệm. Hiện nay, chiếc Austin A95 Westminster mang biển số DBA 599 đang được lưu giữ và trưng bày tại chùa Thiên Mụ ở Huế, chiếc ô tô đã cũ kỹ, màu sơn phai nhạt theo thời gian.


Khu mộ tháp của cố hòa thượng Thích Đôn Hậu nằm ở cuối khu vườn trong khuôn viên của chùa.

Trên những mái chùa là những chi tiết chạm trổ rất nghệ thuật, điêu luyện. Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, lịch sử hiếm có, chùa Thiên Mụ còn là nơi lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, những bức hoành phi, những câu đối cổ, những bức tượng cổ quý hiếm, nhiều bia đá chuông đồng, vừa quý giá về lịch sử, vừa giá trị về nghệ thuật.

Từ sân chùa nhìn xuống là dòng sông Hương lững lờ trôi nhẹ nhàng giữa vùng trời nước mênh mông thăm thẳm. Những chiếc thuyền neo đậu hiền hòa dưới bến, chờ đợi những người khách đang viếng thăm chùa. Những hàng thông ba lá của xứ ôn đới kỳ lạ lại luôn tỏa một màu xanh tươi mát ở đây, xõa bóng xuống che các khoảng sân chùa mát rượi. Đến viếng chùa là quên hết mệt nhọc, nóng bức hay đường xa.. Đến đây, chỉ còn sự thanh bình, thư thái, mát dịu trong tâm hồn.


Từ sân chùa nhìn xuống là dòng sông Hương lững lờ trôi nhẹ nhàng giữa vùng trời nước mênh mông thăm thẳm.

Tháp Phước Duyên: Đây là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Đây còn được gọi là Phước Duyên Bửu Tháp. Tháp hình bát giáp cao 21m gồm 7 tầng dưới lớn trên nhỏ. Số 7 là con số linh của đạo Phật. Tầng một thờ đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi, tầng hai thờ đức Phật Thi Khí, tầng ba thờ đức Phật Tỳ Xá Phù, tầng bốn thờ đức Phật Câu Lưu Tôn, tầng năm thờ đức Phật Na Hàm, tầng sáu thờ đức Phật Ca Diếp, tầng bảy thờ đức Thích Ca Mâu Ni, Tây Phương Cực lạc Pháp Vương. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng


Tháp Phước Duyên

Gác chuông Chùa Thiên Mụ


Văn bia tại chùa Thiên Mụ.

Bài viết có sử dụng ảnh: Journey in Hue
Khám phá Huế tổng hợp
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Được tổ chức vào những năm lẻ, Festival nghề truyền thống Huế là dịp để các nghệ nhân đem hết tài năng, trí tuệ và tinh hoa của nghề, tạo nên những sản phẩm độc đáo để giới thiệu với công chúng và du khách gần xa. Cho đến thời điểm này, Festival nghề truyền thống đã từng bước góp phần thúc đẩy mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các nghề, làng nghề truyền thống của Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung.
  • Một trong những ngày lễ lớn và quan trọng nhất của hệ phái Phật giáo Nam tông (Phật giáo Tiểu thừa) là Đại lễ dâng Y Kathina. Trong những ngày này, tại Thừa Thiên Huế - một trong những cái nôi của Phật giáo, hàng ngàn Phật tử đã hội tụ về đây để tham gia đại lễ lớn nhất trong năm.
  • Chương trình trình diễn áo dài Festival Huế 2018 với chủ đề “Huế vàng son” diễn ra vào tối 1/5 tại sân khấu Bia Quốc Học đã để lại nhiều cảm xúc trong lòng người dân và du khách bởi sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật áo dài, múa và hiệu ứng âm thanh, ánh sáng cùng âm nhạc
  • Lễ nghi và yến tiệc người xưa đặt ra thể hiện tính chất trang nghiêm, long trọng vừa để mừng một dịp tiết lễ hay một sự kiện trọng đại nào đó, vừa để ban thưởng cho những hoàng thân quốc thích hay các quan có công giúp triều đình phong kiến trong việc “bình hồ, trị quốc”.
  • Những công trình kiến trúc văn hóa, những lễ hội truyền thống dân gian phải đáng được lưu tâm phục hồi nhiều hơn nữa để trả lại bộ mặt văn hóa đích thực cho cộng đồng làng xã Việt Nam.
  • Vu lan không phải là ngày lễ riêng của Huế, nhưng Vu lan là nét riêng không thể nào lẫn lộn, là dịp mà tính cách và tâm hồn Huế được bộc lộ một cách rõ rệt nhất.
Về đầu trang