Những điều ít biết về 'kiệt tác' bài chòi vừa được công nhận Di sản thế giới
Như đã đưa tin, vào lúc 17h15’ giờ Hàn Quốc ngày 7.12 (khoảng 15h15’ giờ Việt Nam), hồ sơ “Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ của Việt Nam” đã được tổ chức này thông qua, chính thức trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đoàn Việt Nam tại phiên họp của UNESCO. Ảnh: Vũ Toàn-P/v TTXVN tại Hàn Quốc
Đoàn Việt Nam tại phiên họp của UNESCO. Ảnh: Vũ Toàn-P/v TTXVN tại Hàn Quốc

Nhân dịp này, xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của nhà báo Ly Kha về những điều ít biết về 'kiệt tác' bài chòi vừa được công nhận Di sản thế giới.
 
Bài chòi chiếu là đỉnh cao nghệ thuật đích thực

Từ nhiều thế kỷ trước, người dân miền Trung, Việt Nam từ Quảng Bình đến Khánh Hòa đã quá quen thuộc với bài chòi. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, bài chòi gắn liền với danh nhân Đào Duy Từ (1571 - 1643).

Nhiều thuyết nhận định rằng, cụ Đào là người khai khẩn đất Bình Định đã truyền dạy cho người dân cách chơi bài chòi trong lúc đang ở trên chòi canh giữ thú rừng. Sau, cũng chính cụ truyền dạy cho người dân vùng Quảng Bình khi chỉ huy xây dựng công trình trị thủy Lũy Thầy ở đây. Bài chòi được lan truyền dần dần khắp các tỉnh từ Quảng Bình cho đến Khánh Hòa. Hiện nay, Bình Định là địa phương còn hiển hiện nghệ thuật bài chòi đậm đặc nhất. Cả tỉnh có hàng trăm đoàn bài chòi không chuyên ở khắp các địa phương.

Tại Hội thảo ''Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới'' diễn ra cách đây 2 năm tại Bình Định, nghệ nhân - nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Kiểm đã biểu diễn trích đoạn vở bài chòi chiếu Ông xã trưởng mê gái trẻ khiến cả khán phòng đã thực sự biến thành không gian diễn xướng của bài chòi. Dù đã 80 tuổi nhưng ông vẫn rất đam mê bài chòi. Ông nói: Nhạc bài chòi nằm trong óc người nghệ sĩ chứ không nằm trên giấy. Điều thú vị là nó hết sức linh hoạt và tiếp cận người hát một cách chặt chẽ, người nghe một cách nhanh chóng.

Theo cụ Kiểm, khi bài chòi phát triển hình thức bài chòi chiếu là đỉnh cao của nghệ thuật bài chòi đích thực. Chỉ cần một chiếc chiếu với những khán thính giả (hoặc người chơi bài chòi) ngồi xung quanh, anh Hiệu (tên chỉ người diễn xướng trong bài chòi) đã có thể trình diễn. Một mình anh Hiệu có thể trình diễn nhiều vai khác nhau và tất cả các nội dung bài chòi khác nhau từ bài chòi cổ đến bài chòi dân gian.

Một trong những nét độc đáo nhất của bài chòi là tức hứng và độc diễn. Tức hứng là ứng khẩu thành lời hát ngay tại chỗ; còn độc diễn, là người nghệ sĩ đóng nhiều vai khác nhau, lúc tướng, lúc quân, lúc ông, lúc cháu… và diễn nhiều cảnh khác nhau. Người trình diễn không cần về sân khấu, hóa trang, trang phục… Nói chung, về hình thức biểu diễn không cần những đạo cụ phức tạp; những nhân vật trong chuyện kể thì bình đẳng; lời thơ, câu hát phụ thuộc vào sự ngẫu hứng của người diễn xướng.


Vở Ông xã trưởng mê gái trẻ biến khán phòng hội thảo thành không gian diễn xướng, khiến mọi người rất thích thú

Bài chòi có nhiều nét tương đồng với dân ca nước ngoài

Theo lịch sử, Bài chòi trở thành hội đánh bài chòi của người dân mỗi độ Xuân về. Bộ bài chòi có 30 thẻ, thường có 9 chòi được dựng lên. Anh Hiệu bốc trúng thẻ bài nào sẽ hát câu thai kể một câu chuyện vui để đưa đến đích là tên thẻ bài đó. Ai trúng được cả 3 thẻ bài sẽ là người thắng cuộc, được nhận bao lì xì, chúc rượu xuân… Sau, bài chòi được hình thành các hình thức bài chòi sân khấu, bài chòi chiếu, bài chòi ghế… và cả độc diễn bài chòi ở nơi công cộng.

Ở nhiều nước trên thế giới, có nhiều loại hình nghệ thuật dân gian có nhiều nét tương đồng với bài chòi như pansori (Hàn Quốc), cổ từ (Trung Quốc), hát nói (Angieri và Ấn Độ)… nhưng những lời thơ, làn điệu, âm nhạc, từ ngữ, cấu trúc… trong bài chòi là độc nhất. Bởi thế, bài chòi khá thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian nước ngoài.

Sau những chuyến đi, nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Ebsjorn Watermark đúc kết: “Đối với tôi, một điểm cần chú ý trong bài chòi là phần âm nhạc và điều này có thể giúp các nhà nghiên cứu ngoại quốc hiểu về bài chòi cũng như hiểu về những vai trò và những kỹ năng quan trọng của phần nhạc đệm. Đối với tôi, âm thanh của bài chòi được vào bằng giai điệu và nhịp điệu hơn là lời ca”.

Ly Kha
Theo thethaovanhoa.vn
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Khi biên soạn bộ điển lệ nổi tiếng của triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, các sử quan của triều đình đã dành quyển 78 và quyển 242 để bàn về việc ăn mặc của các bậc đế, hậu, hoàng tử, công chúa, quan lại… triều Nguyễn, từ trang phục dùng trong các dịp triều lễ, khánh tiết, tết nhứt, cho đến thường phục, kể cả nội y, “phụ kiện”...
  • Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25/05/1791 – 20/01/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840.
Về đầu trang