Ký họa linh thú sống động qua 'Nghệ thuật Huế' của Léopold Cadière
"Nghệ thuật Huế" (L'Art à Hué) của Léopold Cadière với 200 phụ bản tranh, đồ họa tái hiện sống động nghệ thuật tạo tác của họa công. Trong đó có hình ảnh các linh thú dưới đây.

Họa tiết rồng trên quạt. Rồng nằm trong "tứ linh", đứng đầu long, lân, quy, phụng. Họa tiết rồng là họa tiết linh thú được dùng nhiều nhất trong nghệ thuật nước Nam. Rồng có sức mạnh biểu tượng cho vua. Họa tiết rồng được thấy nhiều ở các chùa, trang trí vải vóc, vật dụng ăn uống...

Bình phong kỳ lân ở chùa. Lân hay kỳ lân nằm trong "tứ linh" với đặc tính tốt, nhân hậu, không giẫm lên cỏ non. Chỉ vua nào nhân đức mới thấy được kỳ lân. Kỳ lân là họa tiết được trang trí ở bình phong đền, chùa, mái đao, hoặc có mặt trong đỉnh trầm, lư hương... Họa tiết kỳ lân thường kết hợp với hoa mẫu đơn.

Họa tiết chim phụng trên mái đao. Chim phụng tượng trưng cho điềm lành vì nó chỉ xuất hiện trong thời bình, biến mất vào thời loạn. Hình chim phụng được trang trí ở nơi thờ phụng nữ thần, trên bờ nóc của đình thờ thần mẫu, trên trán hay khung bia mộ hoàng hậu...

 

Họa tiết rùa trên mái đao. Rùa (quy) là linh vật thứ tư trong "tứ linh" biểu tượng cho sự trường thọ vì sống lâu. Ở Việt Nam hình ảnh rùa đội bia trở nên phổ biến vì theo Léopold Cadière nó mang ý nghĩa trường tồn và vững bền. Hiếm hoi cũng có họa tiết rùa trên mái đao mang trên lưng cổ đồ (kinh thư, thẻ khắc...), miệng phun ra sóng nước.

 

Họa tiết lá và dơi. Dơi biểu tượng cho phúc lành, tên Hán Việt của nó là phúc 蝠 đồng âm với chữ phúc 福 với nghĩa đại phúc, phúc lành. Trong trang trí, họa tiết dơi thường đi kèm với hai quả tua hoặc ngậm một lẵng hoa...


Họa tiết ngũ sư hý cầu. Hình ảnh sư tử thường thấy với bờm xoăn, bộ lông lượn sóng, đuôi rậm và móng vuốt uy lực đang chơi quả cầu cột dải lụa. Họa tiết sư tử thường trang trí góc gờ tường hoặc bình phong, có lúc xuất hiện trên bình vôi, đỉnh trầm.


Họa tiết hổ trên bình phong. Trong 'Nghệ thuật Huế' (L'Art à Hué) của Léopold Cadière, bức tranh trên được ký tên có thể nhận diện là chữ ký của họa sĩ Thang Trần Phềnh (1895-1973), người có nhiều tranh minh họa cho 'Những người bạn cố đô Huế'.


Họa tiết cá trên mái đao. Cá biểu tượng cho sự dư dả. Họa tiết cá được dùng trong nhiều đình, chùa ở miền Bắc để trang trí trên đầu đường bờ nóc với ý nghĩa "ngư hóa long" - cá hóa rồng. Ở Huế cũng có họa tiết cá trang trí trong cung điện.

Nguồn: Sách "Nghệ thuật Huế" (L'Art à Hué)

Nguồn: https://zingnews.vn/ky-hoa-linh-thu-song-dong-qua-nghe-thuat-hue-cua-leopold-cadiere-post1071917.htm

 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Khi biên soạn bộ điển lệ nổi tiếng của triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, các sử quan của triều đình đã dành quyển 78 và quyển 242 để bàn về việc ăn mặc của các bậc đế, hậu, hoàng tử, công chúa, quan lại… triều Nguyễn, từ trang phục dùng trong các dịp triều lễ, khánh tiết, tết nhứt, cho đến thường phục, kể cả nội y, “phụ kiện”...
  • Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25/05/1791 – 20/01/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840.
Về đầu trang