Thời kỳ Tiền sử, Sơ sử đến thế kỷ XIV
Thời Sơ sử ứng với thời đại Kim khí theo phân kỳ khảo cổ học, bao gồm cả thời đại đồ đồng cho đến sơ kỳ thời đại đồ sắt.

  Công cụ sắt ở Cồn Ràng (Hương Trà)

Thừa Thiên Huế thời Kim khí là địa bàn phân bố của phức hệ văn hóa Sa Huỳnh. Đến nay tại Thừa Thiên Huế đã phát hiện được hai di tích của giai đoạn muộn - giai đoạn Sa Huỳnh điển hình ở Cồn Ràng và Cửa Thiềng, tìm thấy nhiều di vật như mộ chum, đồ gốm, công cụ bằng sẳt, đồ trang sức bằng đá, thủy tinh...

Các di tích phức hệ văn hóa Sa Huỳnh ở Thừa Thiên Huế được phát hiện chưa nhiều, chưa có hệ thống, giai đoạn tiền Sa Huỳnh đang còn là mảng trống. Nhưng những tài liệu đã biết về giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh điển hình ở đây cho phép nhận thức rằng cư dân thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh trên đất Thừa Thiên Huế có bộ mặt văn hóa và trình độ kỹ thuật hoàn toàn đồng nhất với cư dân các vùng khác trên địa bàn phân bố của nền văn hóa này.

Cư dân văn hóa Sa Huỳnh trên đất Thừa Thiên Huế đã có một cuộc sống nông nghiệp định cư lâu dài, sự phát triển của nghề luyện kim đã thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến những chuyển biến sâu sắc trong đời sống xã hội.

Cùng với việc trồng lúa, cư dân thời đó còn trồng các loại cây ăn quả, ăn củ, cây lấy sợi..., họ đã biết khai thác nguồn lợi từ biển, từ rừng, từ lòng đất bằng việc đánh bắt hải sản, săn bắt thú, khai thác các nguồn hương liệu, khoáng sản.... Bên cạnh đó, họ đã biết phát triển các nghề thủ công như nghề chế tạo đồ sắt, làm gốm, đồ trang sức, đan lát, xe sợi, dệt vải. Đồ trang sức, đồ gốm thời đại này đã đạt được trình độ thẩm mỹ cao. Ngoài ra, họ đã biết giao lưu, trao đổi, buôn bán với các cư dân thời đại Kim khí trong khu vực, đặc biệt là với cư dân Việt cổ - chủ nhân của văn hóa Đông Sơn, bằng chứng là sự có mặt của trống đồng Đông Sơn ở Khe Trăn (Phong Mỹ, Phong Điền) đã khẳng định cho mối quan hệ giao lưu văn hóa này.

Đời sống tinh thần của cư dân thời kỳ này nhờ sự phát triển của nông nghiệp và các nghề thủ công cũng phong phú và đa dạng hơn, họ đã biết làm đẹp cho mình và những đồ dùng trong sinh hoạt.

Với những nhân tố phát triển trên, rất có thể cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã bước vào giai đoạn xã hội có giai cấp và nhà nước sơ khai (tiền nhà nước), làm tiền đề cho sự ra đời của vương quốc Chămpa cổ đại ngay trong thời kỳ sau đó.

Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử
(Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)

 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
  • Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân. Để có sính lễ ngày cưới, phần đất của hai châu Ô và Lý từ Vua Chế Mân Chiêm Thành, công chúa đã hy sinh tình riêng. Diện tích đất nước được nới rộng. Ô và Lý sau này được đổi thành châu Thuận và Hóa vào năm 1306. Sau bao lần thay đổi, tên này vẫn được giữ nhưng đã đọc trại từ Hóa ra Huế. Huế còn đến nay và mãi mãi đậm nét trong tâm khảm người ...
  • Theo lịch sử, triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa Nguyễn đầu tiên đặt nền móng cho vương triều Nguyễn và Bảo Đại là vị vua cuối cùng, trong khoảng thời gian gần 400 năm bắt đầu từ năm 1558 và kết thúc vào năm 1945.
  • Cúng đất còn có tên là lễ “ Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
  • Khi biên soạn bộ điển lệ nổi tiếng của triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, các sử quan của triều đình đã dành quyển 78 và quyển 242 để bàn về việc ăn mặc của các bậc đế, hậu, hoàng tử, công chúa, quan lại… triều Nguyễn, từ trang phục dùng trong các dịp triều lễ, khánh tiết, tết nhứt, cho đến thường phục, kể cả nội y, “phụ kiện”...
  • Minh Mạng (chữ Hán: 明命, 25/05/1791 – 20/01/1841), tức Nguyễn Thánh Tổ (阮聖祖), là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840.
Về đầu trang