menu_open
Đau tim - những “dấu hiệu nhỏ” có thể dẫn đến “nguy cơ to”
19/09/2023 8:13:47 SA
Xem cỡ chữ:
Người dân nên kiểm tra đánh giá qua thăm khám sức khỏe định kỳ đầy đủ các thông số như: huyết áp, đường máu, mỡ máu toàn bộ… (Trong ảnh GS.TS. Huỳnh Văn Minh đang khám cho bệnh nhân)
“Mệt mỏi, khó thở, đau ngực, phù chân, nhức đầu, hồi hộp… là những “dấu hiệu nhỏ” nhưng sẽ có “nguy cơ to” nếu bỏ qua. Tai biến tim mạch khi đó sẽ là nhồi máu cơ tim, đột qụi, suy tim, rối loạn nhịp tim và đột tử!”. Đây là khuyến cáo của GS.TS. Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam, Chủ tịch Hội Tim mạch Thừa Thiên Huế, về những nguy cơ tim mạch không truyền thống.
Người dân nên kiểm tra đánh giá qua thăm khám sức khỏe định kỳ đầy đủ các thông số như: huyết áp, đường máu, mỡ máu toàn bộ… (Trong ảnh GS.TS. Huỳnh Văn Minh đang khám cho bệnh nhân)

Để giúp độc giả hiểu hơn về những nguy cơ không truyền thống dẫn đến đau tim này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS. Huỳnh Văn Minh.

Thưa GS.TS. Huỳnh Văn Minh, ngoài những nguyên nhân truyền thống lâu nay dẫn đến đau tim như tiểu đường, huyết áp cao, thừa cân béo phì, cholesterol cao… thì còn các nguyên nhân nào có thể dẫn đến các bệnh về tim mạch mà thường thì người dân không biết, hoặc không để ý tới?

Theo y văn và các khuyến cáo trên thế giới cũng như tại nước ta, có 4 nguy cơ tim mạch truyền thống gây tai biến vữa xơ động mạch như bệnh mạch vành được xác định đó là: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và hút thuốc. Tuy vậy, theo các nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học nhận thấy có một tỷ lệ đáng kể gần tới 30% các trường hợp nhồi máu cơ tim có sóng điện tim chênh lên nhưng không tìm thấy các yếu tố nguy cơ truyền thống. Đây là một câu hỏi mà các nhà khoa học đang tìm cách trả lời.

Hiện nay, có thể tập trung vào các yếu tố nguy cơ không truyền thống, như: yếu tố viêm hs-CRP, homocystein, độ vôi hóa mạch vành, thành phần lipid Lp (a), Apo(B), di truyền polygenic risk score… Đây là những chỉ điểm sinh học, hình ảnh học và di truyền học cũng đã được biết và nghiên cứu từ lâu nhưng chưa được quan tâm, không những người dân mà ngay cả các nhà y học cũng ít chú ý để đưa vào khuyến cáo.

Số người bị đau tim bởi những nguy cơ không truyền thống này có nhiều không thưa giáo sư? Vì sao số người bị đau tim thời gian gần đây ngày càng xuất hiện nhiều hơn so với trước?

Đã có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ truyền thống trên thế giới về tần suất và tỷ lệ các yếu tố nguy cơ truyền thống; điển hình là nghiên cứu INTERHEART với sự tham dự của 52 quốc gia trên các châu lục và đã công bố vào năm 2004 cho thấy các yếu tố nguy cơ truyền thống như sau: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thuốc lá; ngoài ra còn có vai trò của béo phì, chấn thương tâm lý, ít vận động, chế độ ăn uống không lành mạnh. Riêng đối với yếu tố nguy cơ không truyền thống như đã nêu trên, tần suất bị biến cố tim mạch từ 17-30%.

Giáo sư có thể nói rõ hơn về những dấu hiệu đau tim bởi những nguy cơ không truyền thống, khác với dấu hiệu của đau tim bởi nguy cơ truyền thống là gì?

Đây là câu hỏi quan trọng vì cũng là mục tiêu của các nghiên cứu hiện nay. Có nhiều kết quả chưa thống nhất nhưng đa số cho rằng, biến cố mạch vành của nhóm yếu tố nguy cơ không truyền thống thì chẩn đoán khó hơn do các yếu tố nguy cơ không truyền thống chưa nằm trong danh mục xét nghiệm thường quy của Bảo hiểm y tế chấp nhận; điều trị cũng khó hơn do các khuyến cáo chưa có hướng dẫn cụ thể, tiên lượng nặng hơn do bác sĩ và bệnh nhân đều chủ quan không coi trọng và tiên lượng khó khăn hơn, đặc biệt kể cả khi ra viện do không được áp dụng một phác đồ chuyên biệt.

Khi nào thì người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được bác sĩ thăm khám cụ thể? Nếu người bệnh không biết mình đang có dấu hiệu bị bệnh lý về tim mạch và đi khám muộn thì sẽ dẫn đến những hậu quả như thế nào, thưa giáo sư?

Ở nước ta hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ngày càng cao và trẻ hóa nên việc thăm khám định kỳ là bắt buộc, cần chú ý đánh giá thêm các yếu tố nguy cơ không truyền thống ngoài yếu tố nguy cơ truyền thống, nhất là khi bệnh nhân có những dấu hiệu dự báo như mệt mỏi, khó thở, đau ngực, phù chân, nhức đầu, hồi hộp… Đây là những “dấu hiệu nhỏ” nhưng sẽ có “nguy cơ to” nếu bỏ qua! Tai biến tim mạch khi đó sẽ là nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim, rối loạn nhịp tim và đột tử!

Giáo sư có thể cho biết những giải pháp cần thiết để phòng ngừa đau tim do những nguyên nhân không truyền thống và cả đau tim bởi những nguyên nhân truyền thống? Là chuyên gia về tim mạch, giáo sư có thể cho thêm vài lời khuyên để luôn giữ được trái tim khỏe mạnh và phòng ngừa mắc các bệnh về tim mạch không?

Để nắm bắt được các yếu tố nguy cơ trên nhằm có biện pháp dự phòng cần thiết, người dân nên kiểm tra đánh giá qua thăm khám sức khỏe định kỳ đầy đủ các thông số như: huyết áp, đường máu, mỡ máu toàn bộ... Riêng với yếu tố nguy cơ không truyền thống chưa được đưa vào thường quy nên người dân phải tự liên hệ chuyên khoa Tim mạch đề xuất thực hiện thêm.

Ngoài ra hiện nay có nhiều bảng kiểm tra đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm để chúng ta có thể vào để tự đánh giá nguy cơ tim mạch của mình như vào trang web http://vnha.org.vn/ mục “Dành cho người bệnh” của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam để tự đánh giá và sẽ được hướng dẫn

 Về dự phòng tim mạch cá nhân cần chú ý: thứ nhất là xác định yếu tố nguy cơ tim mạch cho cá nhân. Thứ hai là áp dụng các biện pháp can thiệp nhằm vào lối sống như thể dục và hoạt động thể chất, dinh dưỡng hợp lý, tránh thuốc lá, rượu bia, theo dõi trọng lượng cơ thể, tâm sinh lý. Thứ ba là chú ý điều trị bệnh đồng mắc như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, liệu pháp chống huyết khối, chống viêm.

 Xin cảm ơn giáo sư!

Bệnh tim mạch gần đây có nguy cơ tử vong hàng đầu với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất trên thế giới và tại nước ta. Công bố của Tổ chức Y tế thế giới gần đây cho thấy, 31% nguyên nhân tử vong tại Việt Nam liên quan tim mạch là chính. Chưa thể lý giải hoàn toàn nhưng chắc chắn nguyên nhân có liên quan đến việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ truyền thống và yếu tố nguy cơ không truyền thống chưa được triệt để!

Ngọc Hà (thực hiện)