menu_open

Số hóa “chữ nhạc” truyền thống Huế

03/05/2026 5:46:38 CH
Xem cỡ chữ:
Tác phẩm “Thiên địa giao hòa” dựa trên điệu múa Thanh Hoa Chi giành Huy chương Bạc tại Liên hoan Độc tấu và hòa tấu dàn nhạc dân tộc toàn quốc
Khi lớp nghệ nhân am tường dần ít đi, “chữ nhạc” Huế đứng trước nguy cơ thất truyền. Việc số hóa đang được triển khai nhằm ghi lại hệ thống ký âm này, tạo cơ sở cho việc học, dạy và sử dụng trong thực tế.
Tác phẩm “Thiên địa giao hòa” dựa trên điệu múa Thanh Hoa Chi giành Huy chương Bạc tại Liên hoan Độc tấu và hòa tấu dàn nhạc dân tộc toàn quốc

Từ ký ức nghệ nhân

“Chữ nhạc là phần không thể tách rời của hệ thống âm nhạc cung đình, từ Nhã nhạc đến nhạc múa, kể cả ca Huế. Mỗi bài bản đều gắn với một hệ thống chữ đi kèm, phản ánh cả giai điệu lẫn phong cách diễn tấu”, NSƯT Hoàng Trọng Cương, Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế mở đầu câu chuyện về dự án số hóa chữ nhạc.

Theo ông, trước khi được định hình thành hệ thống ký âm, âm nhạc cung đình Huế chủ yếu được truyền dạy bằng phương thức truyền khẩu. Nghệ nhân vừa là người giữ tri thức, vừa là “bộ nhớ sống” của từng làn điệu, từng kỹ thuật luyến láy, ngắt nghỉ.

Sau khi Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (năm 2003), việc hệ thống hóa ký âm mới dần được chú ý. Trên nền tảng 5 dòng kẻ phương Tây, các nghệ nhân bắt đầu định hình hệ thống chữ nhạc bằng chữ quốc ngữ với các âm như “họ, xự, xàng, xê, cống…”, sau đó mở rộng thêm các biến thể.

Dù vậy, ông Cương nhận định, chữ nhạc nếu tách rời nghệ nhân sẽ khó giữ được “hơi thở” đặc trưng của âm nhạc cung đình. Một bản ký âm chỉ là phần xác. Phần hồn nằm ở cách diễn tấu, cách luyến láy, nhấn nhá, điều mà trước đây chỉ có thể học khi ngồi kèm nghệ nhân.

Thực tế, nhiều nghệ nhân lớn tuổi của Nhã nhạc đã qua đời. Những người còn lại chủ yếu là truyền nhân trong gia đình hoặc các giảng viên kỳ cựu từng được đào tạo trực tiếp. Đội ngũ này ngày càng ít, trong khi việc tiếp cận tư liệu gốc lại phụ thuộc nhiều vào ký ức cá nhân. “Nếu không kịp thời hệ thống lại chữ nhạc, chúng ta có thể đánh mất nhiều chi tiết quan trọng về cao độ, tiết tấu, ký hiệu biểu cảm”, ông Cương nhận định.

Từ yêu cầu cấp thiết đó, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xây dựng đề án số hóa chữ nhạc truyền thống Huế, giao Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế chủ trì thực hiện.

Dự án mới được Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) lựa chọn tài trợ (cuối tháng 1/2026) - một trong ba đề tài văn hóa, lịch sử tiêu biểu được xét chọn trong năm.

Giai đoạn đầu của dự án tập trung vào thực nghiệm với hai nhạc cụ: Đàn nguyệt (thuộc hệ thống Nhã nhạc) và đàn tranh (thường dùng trong nhạc đệm múa cung đình).

Quy trình triển khai được chia thành nhiều bước. Trước hết là đào tạo học viên nhận diện và viết được chữ nhạc. Tiếp đó, người học làm quen với cao độ của từng ký âm, rồi gắn vào các bài bản cụ thể. Ở giai đoạn cuối, học viên vừa đọc chữ nhạc, vừa diễn tấu trực tiếp trên nhạc cụ.

Nhóm nghiên cứu lựa chọn 10 bản ngự “Thập thủ liên hoàn” trong hệ thống Tiểu nhạc để đưa vào thực nghiệm. “Sau ba bước: Viết, đọc, diễn tấu, chúng tôi có thể hình thành bộ dữ liệu ban đầu để lưu trữ và tiến tới số hóa”, ông Cương cho biết.

Theo kế hoạch, khi hoàn thành giai đoạn 1, dự án sẽ được báo cáo với hội đồng VINIF để đề xuất giai đoạn 2. Ở bước tiếp theo, phạm vi nghiên cứu sẽ mở rộng sang nhiều nhạc cụ khác như đàn nhị, đàn tỳ, sáo…; đồng thời tiếp cận thêm các hệ thống bài bản phong phú hơn.

Xa hơn, dự án hướng đến việc bao phủ cả Đại nhạc, ca Huế và nhạc múa cung đình - những lĩnh vực có sự giao thoa chặt chẽ với Nhã nhạc.


Ký kết tài trợ dự án khoa học công nghệ và văn hóa lịch sử “Số hóa chữ nhạc truyền thống Huế”

Tạo “kho dữ liệu sống” cho di sản

Điểm cốt lõi của dự án không dừng ở việc ký âm, mà là xây dựng một hệ thống dữ liệu có khả năng lưu trữ, tra cứu và phục vụ đào tạo lâu dài.

Theo các nhà nghiên cứu, hệ thống chữ nhạc Huế có nền tảng ngũ cung, tương đồng với nhiều nền âm nhạc phương Đông. Tuy nhiên, qua quá trình phát triển, hệ thống này đã có những biến thể phức tạp, bao gồm cả việc chuyển quãng, biến âm, hay sử dụng các nốt “ngoại” để thể hiện những làn điệu mang tính đặc thù. Những yếu tố này nếu không được ghi chép đầy đủ sẽ rất khó tái hiện chính xác.

Việc số hóa vì vậy mang ý nghĩa như một “bộ nhớ mở rộng”, giúp lưu giữ đồng thời cả ký âm, âm thanh và cách thức trình diễn. Khi hoàn thiện, dữ liệu có thể phục vụ nhiều mục đích: Từ giảng dạy, nghiên cứu, đến phổ biến rộng rãi cho công chúng. “Chúng tôi kỳ vọng hình thành một kho tư liệu về chữ nhạc, nơi vừa lưu trữ, vừa hỗ trợ truyền dạy, đồng thời mở ra cơ hội để thế hệ trẻ tiếp cận di sản theo cách gần gũi hơn”, ông Hoàng Trọng Cương bày tỏ.

Ở góc độ quản lý, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Hoàng Việt Trung cho rằng, việc dự án được VINIF lựa chọn tài trợ là sự ghi nhận đối với hướng đi kết hợp giữa bảo tồn di sản và công nghệ. Những năm gần đây, Trung tâm đã đẩy mạnh số hóa nhiều lĩnh vực, từ cơ sở dữ liệu tuồng cung đình, bài bản Nhã nhạc, đến các hồ sơ khoa học về nghi lễ và nghệ thuật trình diễn. Việc bổ sung hệ thống chữ nhạc vào kho dữ liệu được xem là bước hoàn thiện quan trọng.

Từ bảo tồn đến sáng tạo

Song song với công tác lưu trữ, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế cũng tìm cách đưa chất liệu cung đình vào các sản phẩm nghệ thuật mới.

Theo NSƯT Hoàng Trọng Cương, việc giữ nguyên bản các tác phẩm cổ trong mọi hoàn cảnh biểu diễn là điều không dễ. Nhiều chương trình hiện đại đòi hỏi sự điều chỉnh về thời lượng, cấu trúc và cách thể hiện. Giải pháp được lựa chọn là phát triển tác phẩm mới dựa trên nền tảng truyền thống. Các bài bản cổ được xử lý lại, nâng cao về dàn dựng, phối khí và vũ đạo để phù hợp với không gian biểu diễn đương đại.

Thực tế cho thấy, hướng đi này mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhiều tác phẩm lấy cảm hứng từ âm nhạc và múa cung đình đã đoạt giải thưởng tại các liên hoan nghệ thuật trong nước và quốc tế, đồng thời được lựa chọn biểu diễn trong các sự kiện ngoại giao quan trọng.

Trong 5 năm qua, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế đã triển khai nhiều đề tài và đề án: Xây dựng cơ sở dữ liệu tuồng Huế, phục dựng các bài bản Nhã nhạc, truyền dạy nghề kẻ mặt nạ tuồng… và nay là số hóa chữ nhạc. Điểm chung của các hoạt động này là kết hợp giữa nghiên cứu, phục dựng và ứng dụng. Sau khi hoàn thiện hồ sơ khoa học, các tác phẩm được đưa trở lại đời sống thông qua biểu diễn phục vụ du khách.

“Di sản muốn “sống” được thì phải có người học, người diễn và người thưởng thức. Số hóa là một công cụ, còn điều quan trọng vẫn là làm sao để âm nhạc cung đình tiếp tục vang lên trong đời sống hôm nay”, ông Cương nói.

Liên Minh - Ảnh: Nhà hát NTTTCĐ Huế
Các bài khác
    << < 1 2 3 4 5 > >>