menu_open

Tuyên truyền về việc triển khai thực hiện Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy 2025

16/06/2026 5:41:22 CH
Xem cỡ chữ:
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 163/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng chống ma túy (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026), cùng với thời điểm có hiệu lực của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để tổ chức triển khai thi hành trong thực tiễn.

Ủy ban nhân dân Thành phố Huế đã có công văn số 8588 /UBND-NC ngày 15/6/2026 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy 2025, trong đó yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn Thành phố tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả nội dung Nghị định, đồng thời thực hiện đăng tải, cập nhật toàn văn nội dung của Luật Phòng chống ma túy năm 2025 và Nghị định trên Trang thông tin điện tử, trang Fanpage của Ủy ban nhân dân thành phố, các sở, ngành, UBND các xã, phường; các nền tảng mạng xã hội và các kênh thông tin khác phù hợp để người dân dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng.

Nghị định gồm gồm 09 chương và 152 điều, cụ thể:

Chương I: Quy định chung (từ Điều 01 đến Điều 04).

Chương II: Phối hợp của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy (từ Điều 05 đến Điều 13).

Chương III: Giám sát điện tử (từ Điều 14 đến Điều 26)

Chương IV: Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy (từ Điều 27 đến Điều 54).

Chương V: Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (từ Điều 66 đến Điều 65).

Chương VI: Cai nghiện ma túy (từ Điều 66 đến Điều 133)

Chương VII: Quản lý sau cai nghiện ma túy (từ Điều 134 đến Điều 139)

Chương VIII: Trách nhiệm của Cơ quan (từ Điều 140 đến Điều 148)

Chương IX: Tổ chức thực hiện (từ Điều 149 đến Điều 152)

Nghị định được xây dựng trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy; đồng thời cụ thể hóa các nội dung được Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để bảo đảm thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.

So với các quy định trước đây, Nghị định số 163/2026/NĐ-CP có nhiều điểm mới, tập trung vào các nội dung sau:

Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy

Một trong những nội dung được điều chỉnh tại Nghị định là hệ thống cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy nhằm bảo đảm phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Hiện nay các cơ quan chuyên trách phòng chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam và Hải quan đã có sự sắp xếp lại tổ chức, mô hình hoạt động. Do đó, Nghị định đã quy định lại tên gọi, tổ chức của một số cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy tại “Điều 5. Các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy”, như: Không còn Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (hoặc Đội có chức năng điều tra tội phạm về ma túy) thuộc Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; sửa “Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan” thành “Chi cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan”; sửa “Phòng Phòng, chống tội phạm ma túy thuộc các Vùng Cảnh sát biển” thành “Phòng Phòng chống tội phạm, vi phạm thuộc Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển” ….

Biện pháp giám sát điện tử

Biện pháp giám sát điện tử là một trong những nội dung mới quan trọng của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15. Việc bổ sung nhằm tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý người nghiện, người sau cai nghiện ma túy, đồng thời nâng cao hiệu quả phòng ngừa tái nghiện và vi phạm pháp luật.

Trên cơ sở quy định của Luật, Nghị định đã dành riêng Chương III (từ Điều 14 đến Điều 26) để quy định chi tiết về Biện pháp giám sát điện tử, đối tượng áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự thực hiện, quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Khái niệm về thiết bị giám sát điện tử: là thiết bị giám sát định vị viễn thông đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được đeo trên cơ thể để xác định vị trí của người bị giám sát, do Bộ Công an trang cấp.

Đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giám sát điện tử: Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai nghiện ma túy; Người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử có hiệu lực thi hành; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có nơi cư trú ổn định nhưng được cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời hạn 01 năm; Người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi không có nơi cư trú ổn định bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử trong thời gian quản lý sau cai nghiện.

Như vậy, để hạn chế tác động ảnh hưởng đến lứa tuổi vị thành niên, biện pháp giám sát điện tử chỉ áp dụng đối với người đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi người này không có nơi cư trú ổn định hoặc có nơi cư trú ổn định nhưng được cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp đề nghị áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Thẩm quyền ra Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử: Trưởng Công an cấp xã nơi lập danh sách quản lý người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy và người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.

Quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử: Cán bộ Công an cấp xã, Cơ sở cai nghiện, Trường giáo dưỡng sau khi nhận được Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử của Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi quyết định có hiệu lực thi hành.

Các nội dung của công tác giám sát điện tử bao gồm: Thực hiện việc đeo, tháo thiết bị giám sát điện tử; Thay thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo thiết bị trong trường hợp thiết bị giám sát điện tử, phụ kiện kèm theo bị hư hỏng; Quản lý, thu hồi thiết bị giám sát điện tử, khắc phục, xử lý sự cố kỹ thuật; Xử lý các cảnh báo của hệ thống giám sát điện tử và Xử lý các hành vi vi phạm trong thực hiện giám sát điện tử.

Các trường hợp người bị giám sát được tháo tạm thời, thay đổi vị trí đeo, thay thế, tạm dừng áp dụng biện pháp giám sát điện tử để không ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt của người bị giám sát; miễn chấp hành thời gian còn lại đối với trường hợp chấp hành tốt; các trường hợp chấm dứt áp dụng biện pháp giám sát điện tử;

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử: Quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công an, Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã, Cơ sở cai nghiện ma túy, trường giáo dưỡng trong thực hiện biện pháp giám sát điện tử và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm soát an ninh không bắt buộc người bị giám sát điện tử phải tháo thiết bị giám sát điện tử nếu việc đeo thiết bị không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn.

Quyền và nghĩa vụ của người bị giám sát điện tử: Quy định các quyền của người bị giám sát điện tử và nghĩa vụ của họ trong việc tuân thủ, chấp hành thực hiện biện pháp này.

Xử lý vi phạm trong giám sát điện tử: Quy định cụ thể các hành vi vi phạm quy định về giám sát điện tử và các chế tài xử lý vi phạm với các mức từ lập biên bản nhắc nhở đến xử lý hành chính, xử lý hình sự tùy theo tính chất, mứ độ vi phạm.

Quy định điều kiện bảo đảm điều kiện thực hiện biện pháp giám sát điện tử. Do biện pháp giám sát điện tử là biện pháp ứng dụng công nghệ để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả công tác quản lý người nghiện, người sau cai nghiện của lực lượng Công an cơ sở. Biện pháp không làm phát sinh thêm tổ chức bộ máy, vị trí việc làm. Do đó điều kiện bảo đảm để thực hiện là kinh phí trang bị, bảo dưỡng, duy trì hoạt động, sửa chữa hệ thống và thiết bị giám sát điện tử do Nhà nước bảo đảm để triển khai thực hiện.

Công tác kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy

Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới, Nghị định tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy theo hướng rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, tăng cường phân cấp, phân quyền và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

Bổ sung phạm vi quản lý thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa tiền chất và nguyên liệu sản xuất thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản là tiền chất vào trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định tại Chương III Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15.

Bổ sung phạm vi của hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy vì mục đích quốc phòng, an ninh: thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế và các công tác nghiệp vụ khác trong lực lượng Công an nhân dân; Bổ sung thêm các đơn vị hoạt động khoa học và công nghệ, trực thuộc Bộ Công an được quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất để phục vụ hợp tác quốc tế, nghiên cứu, hướng dẫn quy trình và chuyển giao công nghệ.

Bổ sung trách nhiệm quản lý các hoạt động hợp pháp liên quan đến thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất của Bộ Y tế, trong đó có hoạt động cấp phép chất chuẩn là chất ma túy, tiền chất phục vụ công tác  nghiên cứu, kiểm  nghiệm thuốc của các cơ sở dược; Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong các lĩnh vực được phân cấp, phân quyền từ Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Bổ sung nội dung Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất và quy định nội dung hồ sơ, trình tự, thủ tục điều chỉnh, cấp lại, các trường hợp bị thu hồi và thủ tục thu hồi Quyết định cấp phép nghiên cứu chất ma túy, tiền chất.

Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục cho phép sản xuất thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất; nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuốc, nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt và trình tự, thủ tục cho phép sản xuất tiền chất công nghiệp  thực hiện theo quy định của pháp luật về hóa chất cần kiểm soát đặc biệt để cụ thể hóa vai trò của các Bộ, ngành; Bổ sung nội dung chi tiết các yêu cầu về hồ sơ và điều kiện sản xuất chất ma túy, tiền chất.

Bổ sung quy định nhập khẩu chất chuẩn phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm thuốc do Bộ Y tế cấp phép, quản lý. Chất chuẩn hiện đã được bỏ ra khỏi Nghị định số 163/2025/NĐ-CP nên cần được quy định cụ thể để Bộ Y tế và các doanh nghiệp thực hiện; Bổ sung quy định nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa chứa chất ma túy, tiền chất của từng Bộ để loại trừ việc cấp phép theo Nghị định này.

 Bổ sung quy định chung về Kiểm soát các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất tái nhập; quá cảnh chất ma túy, tiền chất trên lãnh thổ Việt Nam: trên cơ sở gộp các nội dung trùng nhau quy định nhiệm vụ của lực lượng thi hành pháp luật về phối hợp theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm của các điều trong  mục 2 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP.

Bổ sung quy định về xử lý chất ma túy hình thành trong hoạt động nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu, sản xuất, tiếp nhận, chuyển giao quy trình trong lực lượng Công an; Bổ sung quy định cơ quan ra quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy gửi văn bản đến Bộ Công an, Công an cấp tỉnh nơi tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh và cập nhật trên Trung tâm dữ liệu.

Bổ sung nội dung: các tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp liên quan đến các chất ma túy, tiền chất được Bộ Công an cấp tài khoản truy cập và mật khẩu riêng để truy cập Trung tâm dữ liệu và thực hiện khai báo, cập nhật thông tin trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi có nội dung phát sinh. Nếu không thực hiện sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc cấp phép đối với một số hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 27 của Nghị định. Việc giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giúp giảm tải cho các Bộ và tạo thuận lợi cho cơ quan, doanh nghiệp trong thực hiện các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; Bổ sung thẩm quyền của Bộ Y tế cấp phép một số hoạt động hợp pháp đối với chất chuẩn (Điều 27, Điều 34 Nghị định).

Biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy

Nghị định tập trung hoàn thiện các quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của lực lượng Công an cấp xã và bảo đảm hiệu quả quản lý tại cơ sở. Gom các quy định về xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể (được quy định tại Điều 22 và Điều 46 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP) vào Điều 56 Nghị định mới để thống nhất thực hiện và đưa lên đầu chương.

Giao thẩm quyền ra Quyết định Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy cho Trưởng Công an cấp xã, bảo đảm phù hợp với việc thay đổi thẩm quyền quản lý và tổ chức thực hiện; Trưởng Công an xã trực tiếp ra quyết định và thực hiện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ giảm các thủ tục báo cáo và thời gian ra quyết định nhưng vẫn đảm bảo trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện công tác quản lý.

Bổ sung nội dung thực hiện áp giải theo thủ tục hành chính với người không chấp hành yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể để phù hợp với quy định của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng như nâng cao hiệu lực của cơ quan chức năng trong thực hiện việc xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.

Bổ sung quy định khi người sử dụng trái phép chất ma túy chuyển nơi cư trú thì Trưởng Công an cấp xã nơi cư trú mới phải ra Quyết định quản lý mới để phân công lại cán bộ Công an cấp xã thực hiện và Tổ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Công tác cai nghiện ma túy

Trong lĩnh vực cai nghiện ma túy, Nghị định kế thừa và chỉnh lý, bổ sung thẩm quyền thực hiện một số nội dung cho phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và các nội dung mới của Luật Phòng, chống ma túy như:

Bổ sung quy định cụ thể về điều kiện của tổ chức hoặc cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

Bổ sung quy định xác định rõ ràng, cụ thể việc sử dụng thành quả lao động trị liệu để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nghiện, tạo điều kiện cho người nghiện có ngay một số vốn để tái hòa nhập cộng đồng sau khi hoàn thành cai nghiện.

Bổ sung thời gian thực hiện các giai đoạn của quy trình cai nghiện ma túy.

Giảm yêu cầu về điều kiện thành lập cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng để khắc phục tình trạng điều kiện cung cấp dịch vụ quá cao, các đơn vị sự nghiệp công lập, cá nhân, tổ chức không đáp ứng được nhu cầu.

Chuyển thẩm quyền từ “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã” sang “Trưởng Công an cấp xã” trong đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế cho phù hợp với việc thay đổi thẩm quyền quản lý và thẩm quyèn ra Quyết định.

Chuyển thẩm quyền từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sang Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm quản lý công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng để thực hiện thống nhất quản lý công tác cai nghiện ma túy tại địa phương, phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền, phù hợp với việc chuyển giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an.

Chuyển trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh để phù hợp với việc chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an và mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Chuyển thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sang Trưởng Công an cấp xã, qua đó rút ngắn thời gian lập hồ sơ, giảm bớt các bước trung gian. Theo quy định mới, Công an cấp xã lập hồ sơ và trực tiếp gửi cho Tòa án xem xét, quyết định việc đưa đi cai nghiện bắt buộc, không phải trình hồ sơ đề nghị qua Chủ tịch UBND cấp xã duyệt ký.

Công tác quản lý sau cai nghiện ma túy

Nghị định tiếp tục hoàn thiện cơ chế tổ chức cai nghiện theo hướng tăng tính khả thi, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác cai nghiện tự nguyện và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người cai nghiện, cụ thể:

Bổ sung nội dung lập danh sách quản lý sau cai nghiện để phân biệt với danh sách người nghiện. Trước đây danh sách 02 nhóm người này còn bị chồng lấn, đan xen gây khó khăn cho công tác thống kê, đánh giá.

Bổ sung quy định cụ thể về thời hạn thông báo và ra quyết định quản lý sau cai để bảo đảm sự liện tục, kế tiếp nhau từ giai đoạn cai nghiện sang quản lý sau cai nghiện: Theo quy định mới, 30 ngày trước khi người cai nghiện hoàn thành cai nghiện ma túy thì Trưởng Cơ sở cai nghiện công lập, cơ sở cai nghiện tư nhân, Trường giáo dưỡng phải thông báo cho Công an cấp xã nơi sẽ thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy. Công an cấp xã nơi thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã ra Quyết định quản lý sau cai nghiện có hiệu lực ngay từ ngày người đó hoàn thành cai nghiện. Việc trao Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy được thực hiện ngay tại thời điểm người cai nghiện hoàn thành cai nghiện đồng thời với việc thực hiện biện pháp giám sát điện tử để bảo đảm việc thực hiện quản lý sau cai nghiện được tiếp nối ngay sau khi hoàn thành cai nghiện, khắc phục tình trạng người sau khi hoàn thành cai nghiện không về địa phương trình báo để được áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện.

Có thể khẳng định, cùng với Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, Nghị định số 163/2026/NĐ-CP đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong giai đoạn mới. Những quy định mới của Nghị định không chỉ kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn mà còn tiếp tục thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống ma túy.

Việc tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị định số 163/2026/NĐ-CP sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác phòng ngừa, đấu tranh, kiểm soát ma túy; công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, cai nghiện và quản lý sau cai nghiện; qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân trong tình hình mới.

Nguồn tham khảo: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy

Tập tin đính kèm
STT Tên tập tin Tải về
1 Công văn của UBND Thành phố Huế ()