Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
31/07/2012 4:47:19 CH
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế được thành lập tháng 10/2002, trên cơ sở nâng cấp Trung tâm nghiên cứu y học lâm sàng

Với quy mô hiện nay 350 giường. gồm đầy đủ các chuyên khoa lâm sàng, labo xét nghiệm với máy móc, thiết bị hiện đại về siêu âm màu, máy chụp cắt lớp bằng vi tính (CT scanner), máy cộng hưởng từ (MRI)... Tán sỏi tiết niệu ngoài cơ thể máy kích sốc điều trị khớp, máy phẫu thuật nội soi, máy cắt trĩ 22 II D, máy phẫu thuật mắt laser YAG, trắc nghiệm gắng sức, trắc nghiệm bàn nghiêng, dao Gamma đầu, dao Gamma thân đáp ứng mọi nhu cầu chẩn đoán và đièu trị các chuyên khoa theo yêu cầu người dân.

THÔNG TIN VỀ BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

1. Quyết định thành lập
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế: Số 4518/QĐ-BGH&ĐT-TCCB ngày 04/10/2002 của Bộ Giáo dục & Đào tạo

2. Quá trình hình thành và phát triển

Trường Đại học Y Dược Huế trước đây là khoa Y Viện Đại học Huế được thành lập năm 1957. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, được tách ra thành Trường Đại học Y Huế theo quyết định số 265/QĐ/CT ngày 01 tháng 04 năm 1976 của Thủ tướng chính phủ.
Trước năm 1975, mỗi năm Trường đào tạo 150-200 học sinh, mỗi năm ra trường từ 20 đến 50 bác sĩ. Từ sau năm 1975, Trường Đại học Y Dược Huế là cơ sở đào tạo cán bộ Y tế chủ yếu cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, với quy mô đào tạo 2000 đến 2500 học sinh, mỗi năm ra trường từ 350 đến 450 bác sĩ.
Từ năm 1989 đến nay, Trường được Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế giao đào tạo 5 ngành Đại học (bác sĩ Đa khoa, bác sĩ Răng hàm mặt, Dược sĩ, cử nhân Điều dưỡng và cử nhân Kỹ thuật y học), gần 20 ngành Chuyên khoa I, 09 ngành Chuyên khoa II, 6 ngành Cao học và 02 ngành Tiến sĩ…
Năm học 2002-2003, quy mô đào tạo, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh đặc biệt để phát huy trí tuệ, sức mạnh về chuyên môn nghiệp vụ của hơn 400 cán bộ công chức nhà Trường. Năm 1996, Trường được Bộ Y tế quyết định cho thành lập phòng khám Đa khoa. Năm 1998, Trường được Bộ Giáo dục & Đào tạo quyết định cho thành lập Trung tâm nghiên cứu Y học lâm sàng, năm 1999 Ủy Ban Nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế đã thẩm định và cho phép phòng khám Đa khoa và Trung tâm Nghiên cứu Y học lâm sàng đi vào hoạt động.
Sau 3 năm hoạt động, Trường đã đào tạo bồi dưỡng được gần 400 cán bộ có trình độ chuyên môn và tay nghề cao làm việc thường xuyên, không thường xuyên và kiêm nhiệm tại Trung tâm. Đã phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị kỹ thuật khá hiện đại với giá trị hơn 30 tỷ đồng.
Năm 2001, Trung tâm đã khám và điều trị 80.443 bệnh nhân, tăng 200% so với năm 2000 và năm 2002 tằng 250%. Đặc biệt số người đăng ký khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế ngày một tăng: năm 1999 là 4.200 người; năm 2000 là 10.600 người; năm 2001 là 12.877 người và năm 2002 là 17.600 người, với gần 150 giường bệnh cho điều trị nội trú.
Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi cấp bách của công tác đào tạo Đại học, Sau đại học và nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, tập trung trí tuệ của các nhà khoa học, nghiên cứu và tiếp cập các phương tiện kỹ thuật tiên tiến trên Thế giới, đi sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực Y học mà ngành Y tế đang quan tâm. Trường đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo ra quyết định số 4518/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 04/10/2002 cho phép Trường thành lập Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế nâng cấp từ Trung tâm nghiên cứu Y học lâm sàng.
Căn cứ vào chủ trường, đường lối của Đảng về xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Căn cứ vào nhu cầu khám chữa bệnh với kỹ thuật cao của nhân dân ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo một số chuyên khoa sâu Sau đại học cho các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đồng thời phát huy đội ngũ cán bộ có chuyên môn, tay nghề cao và cơ sở vật chất trang thiết bị hiện có của Trường. Trường lập dự án đưa Bệnh viện vào hoạt động trên cở sở phát huy hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu y học lâm sàng của Trường trước đây.
3. Tổ chức

3.1. Ban giám đốc: 01 giám đốc; 03 phó giám đốc
3.2. Các phòng ban chức năng: gồm 04 phòng chức năng
- Phòng kế hoạch tổng hợp (tổ Hành chính & Tổ chức cán bộ, tổ Hồ sơ Y lý và tổ Quản trị).
- Phòng Tài chính - Kế toán
- Phòng NCKH - đối ngoại
- Phòng Điều dưỡng
3.3. Các khoa, đơn vị trực thuộc: 20 khoa và 4 đơn vị và trung tâm
- Khoa Khám bệnh với các phòng khám sau: Khám Nội, khám Ngoại, khám Sản, khám Nhi, khám Mắt, khám Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Da liễu.
- Khoa Ngoại Tổng hợp
- Khoa Ngoại Chấn thương, thần kinh, bỏng.
- Khoa Nội Tổng hợp.
- Khoa Nội Tim mạch, Hô hấp, xương khớp
- Khoa Phụ Sản.
- Khoa Nhi.
- Khoa Y học cổ truyền.
- Khoa Chuyên khoa hệ Ngoại (Mắt, Răng Hàm Mặt, Tai Mũi Họng).
- Khoa Ung bướu.
- Khoa Chống nhiễm khuẩn.
- Khoa Chẩn đoán hình ảnh.
- Khoa Gây mê - Hồi sức - Cấp cứu
- Khoa Thăm dò chức năng.
- Khoa Huyết học - Truyền máu.
- Khoa Sinh hoá.
- Khoa Vi sinh.
- Khoa Ký sinh trùng.
- Khoa Giải phẫu bệnh.
- Khoa Dược - Vật tư.
- Đơn vị tán sỏi.
- Đơn vị thận nhân tạo.
- Đơn vị điều trị vô sinh.
- Đơn vị phẫu thuật mắt bằng máy Laser YAG.
- Trung tâm Phẫu thuật bằng dao Gamma.

4. Cán bộ làm việc tại bệnh viện
Số cán bộ tham gia làm việc tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược như sau
Tổng số 346: Bao gồm
- Giáo sư Phó Giáo sư - Tiến sĩ BSCK II : 19
- Tiến sĩ BS : 36
- Bác sĩ CK II: 34
- Thạc sĩ BS : 97
- Bác sĩ: 20
- Khác: 140

5. Quy mô 350 giường bệnh

- Khám chữa bệnh, cấp cứu, phẫu thuật tất cả các chuyên khoa.
- Ứng dụng các kỹ thuật cao trong điều trị:
• Phẫu thuật thần kinh sọ não, các loại ung bướu bằng dao Gamma.
• Phẫu thuật thần kinh sọ não và các chuyên khoa bằng nội soi và phẫu thuật hở.
• Tán sỏi tiết niệu ngoài cơ thể.
• Cắt trĩ bằng sóng cao tần 22 II D
• Phẫu thuật mắt bằng laser YAG.
• Điều trị vô sinh.
- Ứng dụng các kỹ thuật cao về cận lâm sàng và chẩn đoán.
• MRI. CT scanner.
• Kỹ thuật về miễn dịch học.
• Trắc nghiệm gắng sức, trắc nghiệm bàn nghiêng, Holter điện tim, huyết áp
• Lưu huyết não đồ.

.huemed-univ.edu.vn
 Bản in]

Bài đọc nhiều nhất

  • Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế được thành lập tháng 10/2002, trên cơ sở nâng cấp Trung tâm nghiên cứu y học lâm sàng
  • Là một trong ba ngôi trường nổi tiếng của xứ Huế, sau Quốc Học và Đồng Khánh xưa, lại được mang tên của một vị vua triều Nguyễn, nhưng dường như tên gọi trường Hàm Nghi lại gắn sự “lận đận” vào ngôi trường này như chính cuộc đời của vị vua yêu nước cuối thế kỷ XIX.
  • 11/12/2017
    Từng là một “lâm tặc”, phu trầm của những năm 90 thế kỷ trước, 20 năm sau anh trở thành tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài khiến người thân, bạn bè ngỡ ngàng, ngưỡng mộ. Anh là Ngô Văn Bình, giảng viên Khoa Sinh học, Trường đại học Sư phạm – Đại học Huế.
  • 04/12/2017
    Là một chuyên viên công nghệ thông tin (CNTT) nhưng lại “nặng nợ” với chữ Hán – Nôm, anh Phan Anh Dũng (sinh năm 1958) đã cho ra đời nhiều phần mềm hữu ích, góp phần bảo tồn và phát triển di sản chữ Nôm, đưa “chữ xưa vào thời đại nay”.
  • 20/10/2017
    Chúng tôi gặp Thạc sĩ Hoàng Thị Hồng Quế, giảng viên, Trưởng Bộ môn Khuyến nông, Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn Trường đại học Nông Lâm khi biết tin “Mô hình sử dụng chế phẩm TP (Trichoderma – Pseudomonas) phòng trừ bệnh héo rũ hại lạc tại các tỉnh miền Trung” do chị chủ trì được tặng giải thưởng “Phụ nữ sáng tạo 2017”. Giải thưởng sẽ được trao vào Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tại Hà Nội.
  • Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Trung ương Huế khởi công từ năm 2004, hoàn thành năm 2006 và chính thức khánh thành, hoạt động vào ngày 6/3/2007, do Tổ chức Atlantic Philanthropy (Mỹ) tài trợ, xây dựng liên tục trong 3 năm, được thực hiện bởi đối tác là Tổ chức Đông Tây Hội Ngộ
Về đầu trang