menu_open
Lăng mộ và Nhà thờ Nguyễn Tri Phương
Xem cỡ chữ:
Di tích nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Tri Phương là di tích cấp Quốc gia tại Huế, được công nhận vào năm 1990.
Địa chỉ: Làng Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tình trạng: Được công nhận là di tích cấp Quốc gia năm 1990
Giới thiệu:

Di tích nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Tri Phương là cụm công trình kiến trúc thuộc địa phận làng Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm: Đền thờ Trung Hiếu và Khu lăng mộ Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi thờ tự và là nơi yên nghỉ của "Tam công trung liệt", ba vị công thần trong cùng một gia đình đã có nhiều công lao với đất nước: danh tướng Nguyễn Tri Phương - Tán lý Nguyễn Duy (em ruột Nguyễn Tri Phương) và Phò mã Nguyễn Lâm (con trai thứ hai của Nguyễn Tri Phương).

Di tích nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Tri Phương đã được công nhận là di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 575-QĐ/VHTT ngày 14/7/1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Lịch sử hình thành:

Theo sử sách, Nguyễn Tri Phương (tên thật là Nguyễn Văn Chương), tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, sinh ngày 21-7 năm Canh Thân (năm 1800) tại làng Đường Long (Chí Long), tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền (nay là xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Nguyễn Tri Phương là cái tên ông được vua Tự Đức ban tặng năm Canh Tuất (1850), lấy tứ từ câu “Dõng thả tri phương”, có nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước.

Làm quan dưới các triều Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, Nguyễn Tri Phương (1800-1873) là một đại danh thần Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Thành Hà Nội thất thủ, ông bị quân Pháp bắt giữ nhưng ông đã cự tuyệt hợp tác và tuyệt thực tới chết và mất ngày 20-12-1873 (1-11 âm lịch), thọ 73 tuổi. Ông được chép công trạng khắc vào bia đá ở tòa Võ Miếu Huế.

Sau khi ông hy sinh, thi hài ông và Phò mã Nguyễn Lâm (con trai ông, cùng hy sinh khi giữ thành Hà Nội) được vua Tự Đức cho đưa về an táng tại quê nhà. Lăng mộ ông và Nguyễn Lâm được dòng họ xây dựng vào khoảng năm 1874. Năm 1875, vua Tự Đức cho rằng Nguyễn Tri Phương trải qua ba triều vua, thủy chung với triều đình trước sau như một, nên cho thờ phụng ở nhiều nơi. Nhà vua cho xây dựng đền Trung Hiếu ở Phong Chương để thờ danh tướng Nguyễn Tri Phương, em trai Nguyễn Duy và con trai Nguyễn Lâm. Vua Tự Đức phê “Nguyên tam - Tuyên quân thứ Khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương tử tiết tại Hà Nội, em ruột là Tán lý Nguyễn Duy tử tiết tại Nam Kỳ, con là Phò mã Nguyễn Văn Lâm cũng tử tiết ở Hà Nội theo cha, người thì vì nước bỏ mình, kẻ thì vì cha tuẫn tiết, trung hiếu tiết nghĩa gồm ở một nhà, vậy Triều đình phải nên ưu đãi”.

Qua chiến tranh và thời gian, nhà thờ và khu lăng mộ Nguyễn Tri Phương vẫn giữ được đến nay gần như nguyên trạng.

Ngày 14/7/1990, Khu di tích lịch sử nhà thờ và lăng mộ Nguyễn Tri Phương cùng lăng mộ Phò mã Nguyễn Lâm và lăng mộ Nguyễn Duy (em ruột ông Nguyễn Tri Phương) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 575-QĐ/VH về việc công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Kiến trúc:

Từ đường cái rẽ vào một đường làng nhỏ đã được lát bê tông sạch sẽ, có một gò đất rộng khoảng 500m2, nhô cao khoảng hơn 2m nổi bật lên giữa cánh đồng lúa bao la, đó là khu lăng mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Khu lăng mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương nổi lên giữa cánh đồng lúa Phong Chương quê hương ông

Tường lăng xây không cao, đứng từ bên ngoài có thể nhìn thấy rõ hai nấm mộ phò mã Nguyễn Lâm và danh tướng Nguyễn Tri Phương bên trong. Mộ đầu tiên từ cổng vào là mộ của Phò mã Đô úy Nguyễn Lâm được xây vuông vức nhưng vẫn để lớp đất để cỏ xanh mọc trên mộ. Chếch đằng sau phía bên trái là phần mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương, được xây dựng kiên cố, nhiều đường nét hơn với hai khối chồng lên nhau. Mộ của ông được xây theo cách thức phổ biến của mộ các bậc công thần thời phong kiến, với vòng tường thấp bao quanh, hai bên trụ cổng có cặp nghê, có hình rồng đắp nổi trên bình phong sau mộ. Về tổng thế, phần mộ của Phò mã Nguyễn Lâm có cùng kiểu cách với phần mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương, nhưng có nhiều khác biệt về chi tiết, họa tiết trang trí, không bề thế bằng phần mộ của cha.

Lăng mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương được xây theo cách thức phổ biến của mộ các bậc công thần thời phong kiến

Cận cảnh tượng nghê trước mộ danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Phần mộ Phò mã Đô úy Nguyễn Lâm (con trai thứ hai của danh tướng Nguyễn Tri Phương) có kiến trúc xây dựng tương tự nhưng khác biệt về các chi tiết, họa tiết trang trí

Bình phong trang trí hình hổ đắp nổi trước phần mộ Phò mã Đô úy Nguyễn Lâm

Tượng nghê trước cổng phần mộ Phò mã Đô úy Nguyễn Lâm

Theo các cụ cao niên địa phương, người xưa đã xây dựng lăng mộ rất chắc chắn bằng hợp chất ô dước vôi, cát, mật. Nó bền bỉ trải qua hơn một thế kỷ với bao mùa nắng hạn, lũ lụt lẫn bom đạn chiến tranh nhưng chưa bị hư hại nặng nào.

Cách đó không xa, chỉ hơn 2km là đền thờ Trung Hiếu (hay trung Hiếu từ) được xây dựng ngay trên nền nhà cũ của Nguyễn Tri Phương, có khuôn viên rộng hơn 1.000 m2, được bao bọc bởi lũy tre xanh và đồng ruộng. Đền được xây dựng theo lối kiến trúc nhà rường 3 gian, 2 chái, có mái được lợp bằng ngói liệt (loại ngói đặc trưng của kiến trúc Huế), có bình phong, trụ biểu, sân đình thoáng rộng, hệ thống cột và các cấu kiện bằng gỗ quý do những người thợ Mỹ Xuyên chế tác tinh xảo.

Đền thờ Trung Hiếu - Nơi thờ tự "Tam công trung liệt" Nguyễn Tri Phương - Nguyễn Duy - Nguyễn Lâm

Chính giữa nhà thờ là hương án thờ danh tướng Nguyễn Tri Phương, bên trái là phò mã Nguyễn Lâm, bên phải là em trai Nguyễn Duy, thường được dân gian gọi là thờ "Tam công trung liệt". Ngoài ra, trong khuôn viên của đền thờ Trung Hiếu còn có Bia đá khắc tiểu sử Nguyễn Tri Phương (dựng năm 2010), Đài kỷ niệm "Tam công trung liệt" cũng như các đồ tự khí (đồ thờ) bằng gỗ được trưng bày trong đền...

Đài kỷ niệm "Tam công trung liệt" trong khuôn viên đền Trung Hiếu tại Huế

Ngày nay, đền Trung Hiếu do con cháu Nguyễn Tri Phương chăm nom, hương khói. 

Hiện nay, địa phương đang tiến hành các bước thủ tục cần thiết để có điều kiện nguồn lực tiếp tục tôn tạo, nâng cấp khu di tích, vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, chiêm bái của du khách và công chúng, vừa để khu di tích xứng tầm với công lao và danh tiếng của “Tam công Trung liệt”.

Hướng dẫn đường đi:

 Từ trung tâm thành phố Huế, theo Quốc lộ 1A (hướng Bắc 30km đến xã Phong Thu, huyện Phong Điền) rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 6 khoảng 15km là đến di tích.

Bản đồ:
Ảnh: Võ Thạnh, Kiến Thức
Các bài khác